Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Wilma Rudolph - Niềm tin của mẹ và đôi tay anh chị em làm nên đôi chân
Một ngày nọ, ở một vùng quê bang Tennessee, nước Mỹ, có một cô bé chừng mười một, mười hai tuổi lặng lẽ tháo cái nẹp sắt ở chân trái ra. Rồi trước mặt mẹ và bác sĩ, cô bé đi một mạch qua căn phòng, không vịn vào đâu cả. Cái chân mà người ta từng nói sẽ không bao giờ đi lại được, giờ đang bước.
Mấy chục năm sau, trong cuốn tự truyện của mình, người phụ nữ ấy viết ba câu ngắn mà mình đọc hoài không chán. Đại ý là: bác sĩ bảo tôi sẽ không bao giờ đi được nữa. Mẹ tôi bảo tôi sẽ đi được. Và tôi đã tin mẹ.
Chào bạn,
Cô bé ấy tên là Wilma Rudolph, sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi, ở một làng nhỏ gần thị trấn Clarksville, bang Tennessee. Cha cô có tất cả hai mươi hai người con từ hai cuộc hôn nhân, và Wilma là con thứ hai mươi. Cha làm khuân vác, mẹ đi giúp việc dọn dẹp nhà cửa cho người ta. Nhà nghèo, đông con, nhưng không thiếu tình thương.
Wilma sinh non, chỉ nặng chừng hai ký. Từ nhỏ cô đã ốm đau liên miên. Khoảng bốn, năm tuổi, cô bị viêm phổi nặng, sốt phát ban, rồi mắc bệnh bại liệt. Chân trái của cô yếu hẳn đi, gần như không dùng được. Người ta lắp cho cô một cái nẹp sắt để đỡ chân. Ở tuổi bạn bè chạy nhảy, cô bé chỉ ngồi nhìn.
Vùng quê miền nam nước Mỹ thời ấy, một gia đình da màu nghèo rất khó tìm được bác sĩ chịu chữa cho con mình. Nơi gần nhất nhận chữa là một trường y ở thành phố Nashville, cách nhà chừng tám mươi cây số. Thế là mỗi tuần một lần, suốt hai năm trời, người mẹ dắt con gái đi xe buýt lên đó, rồi lại về.
Bạn thử hình dung người mẹ ấy. Đi làm thuê cả tuần, nhà còn cả đàn con, vậy mà tuần nào cũng ôm con ngồi xe buýt mấy tiếng đồng hồ. Không ai hứa hẹn gì với bà. Bà chỉ tin con mình sẽ đi được, và cứ thế làm phần việc của mình, tuần này qua tuần khác.
Còn ở nhà thì sao? Trong căn nhà nhỏ ấy, các anh chị thay phiên nhau xoa bóp cái chân yếu của em, ngày bốn lần. Không ai than phiền, cũng chẳng ai tính công. Cái chân của Wilma được chăm bằng hơn chục đôi tay trong nhà.
Wilma cũng không chịu ngồi yên. Cô kể rằng nhiều lần cô lén tháo nẹp ra để tập đi. Cô nhờ mấy anh chị đứng canh khắp nhà, hễ cha mẹ về là báo để cô đeo lại. Cô làm vậy suốt mấy năm trời. Cho tới cái ngày cô đi một mạch qua căn phòng trước mặt mẹ và bác sĩ.
Sau đó cô còn phải mang một chiếc giày chỉnh hình thêm một thời gian. Đến khoảng mười hai tuổi, Wilma đã đi lại bình thường, không cần nẹp, không cần giày đặc biệt. Rồi cô bắt đầu chạy. Và cô chạy như để bù cho những năm tháng chỉ được ngồi nhìn.
Lên trung học, cô chơi bóng rổ. Người ta kể rằng lúc đầu huấn luyện viên chỉ định nhận chị gái cô, chính cha cô đã nói với thầy, đại ý là nếu nhận chị thì phải nhận cả em. Cô chơi giỏi đến mức lập kỷ lục ghi điểm của trường. Một huấn luyện viên điền kinh của trường đại học Tennessee State trông thấy cô, và mời cô về tập trong mùa hè, khi cô mới mười bốn tuổi.
Năm mười sáu tuổi, cô được chọn vào đội tuyển Mỹ đi Thế vận hội ở thành phố Melbourne, nước Úc. Cô cùng đồng đội giành huy chương đồng ở nội dung chạy tiếp sức. Một cô bé từng đeo nẹp sắt, giờ đeo một tấm huy chương Thế vận hội. Nhưng cô chưa dừng ở đó.
Bốn năm sau, Thế vận hội năm một nghìn chín trăm sáu mươi ở thành phố Rome, nước Ý. Wilma Rudolph giành ba huy chương vàng: chạy một trăm mét, hai trăm mét, và tiếp sức bốn người. Cô là người phụ nữ Mỹ đầu tiên giành ba huy chương vàng điền kinh trong cùng một kỳ Thế vận hội. Báo chí gọi cô là người phụ nữ chạy nhanh nhất thế giới.
Khi cô trở về, quê nhà làm lễ đón mừng. Cô chỉ nhận lời khi mọi người dân trong thị trấn, không phân biệt ai, đều được cùng đến dự. Người ta nói đó là lần đầu tiên thị trấn ấy cùng nhau ăn mừng như thế.
Cô giải nghệ khi mới hơn hai mươi tuổi. Rồi cô đi dạy tiểu học, làm huấn luyện viên điền kinh ở trường trung học, lập một quỹ để giúp trẻ em tập luyện thể thao. Cô viết tự truyện, đi khắp nơi kể chuyện của mình cho bọn trẻ nghe. Người từng được bao đôi tay nâng đỡ, giờ lại đưa tay cho những đứa trẻ khác.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi tư, ít tháng sau khi người mẹ qua đời, Wilma Rudolph phát bệnh nặng. Cuối năm ấy, bà ra đi tại nhà riêng, năm năm mươi bốn tuổi. Hai mẹ con, người tin và người được tin, đi cùng một năm.
Bạn ơi, mình kể chuyện Wilma, nhưng thật ra mình muốn kể về mẹ cô và đám anh chị em trong căn nhà ấy. Huy chương thì thuộc về một người. Còn cái chân biết đi thì là công của cả nhà. Mỗi tuần một chuyến xe buýt. Mỗi ngày bốn lần xoa bóp. Không có phép màu nào, chỉ có sự bền bỉ của những người thương nhau.
Ở tuổi mình, ai cũng từng hoặc đang chăm một người thân đau ốm lâu ngày. Cha mẹ già nằm một chỗ, người bạn đời sau một cơn tai biến, đứa cháu yếu ớt từ lúc sinh ra. Những ngày ấy dài lắm, mệt lắm, nhiều khi thấy không có kết quả gì. Mình cũng không dám hứa với bạn là cứ cố là sẽ khỏi. Nhưng mình tin sự chăm sóc ấy không bao giờ vô ích.
Có một điều nữa mình học được từ người mẹ ấy. Bà không chỉ chăm con, bà còn tin con. Và niềm tin đó, đứa con mang theo suốt đời. Một lời nói của cha mẹ, của ông bà, có khi nặng hơn mọi lời chẩn đoán. Nói với con cháu một câu, ông bà tin con làm được, đôi khi là món quà lớn nhất mình còn trao được.
Còn nếu trong nhà có việc chung, như chăm cha mẹ già, thì mình nhớ tới đám anh chị em nhà Rudolph. Mỗi người một lượt xoa bóp, không ai tính ai làm nhiều hơn. Chia nhau ra, gánh nặng sẽ nhẹ, mà tình anh em cũng đậm thêm.
Và nếu chính bạn đang là người nằm đó, đang phải nhờ con cháu từng bữa ăn, từng bước đi, thì cũng đừng thấy mình là gánh nặng. Cô bé Wilma năm xưa cũng từng như vậy. Được thương, được chăm, rồi một ngày mình lại trao tình thương ấy cho người khác, theo cách của mình.
Tình Ca. Ở đây có bình an.