Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Rabindranath Tagore - Đừng khóc mãi vì mặt trời, kẻo lỡ những vì sao
Năm một nghìn chín trăm linh ba, ở xứ Bengal bên Ấn Độ, một người cha ngồi bên giường cô con gái đang ốm nặng. Chỉ mấy tháng trước, vợ ông vừa mất. Giữa những đêm thức canh con, ông lại cầm bút viết những bài thơ cho trẻ con, vui tươi và trong trẻo, cho hai đứa con nhỏ nhất đang mất mẹ. Chín tháng sau ngày mẹ mất, cô con gái cũng ra đi.
Người cha ấy là Rabindranath Tagore, nhà thơ người Ấn Độ, người đầu tiên ngoài châu Âu đoạt giải Nobel Văn học, vào năm một nghìn chín trăm mười ba. Bạn đọc Việt Nam biết ông nhiều qua tập Thơ Dâng. Hôm nay mình muốn kể bạn nghe về ông, và về một câu thơ ngắn mà mình nghĩ ai đã qua tuổi năm mươi cũng nên nghe một lần: nếu bạn khóc vì lỡ mất mặt trời, bạn cũng sẽ lỡ mất những vì sao.
Chào bạn,
Ông sinh ngày bảy tháng năm năm một nghìn tám trăm sáu mươi mốt, ở thành phố Calcutta, trong một gia đình lớn và nổi tiếng. Cha ông là một nhà triết học. Mẹ ông mất khi ông còn rất nhỏ. Cậu bé lớn lên phần nhiều trong tay những người làm bếp, người giúp việc trong nhà.
Cậu bé ấy rất ghét ngồi trong lớp học. Ông được học phần lớn ở nhà, có đi học trường lớp một ít, rồi sang nước Anh học vào cuối những năm một nghìn tám trăm bảy mươi. Cái cậu thích là được lang thang ngoài trời. Sau khi mẹ mất, cậu gần như tránh hẳn những giờ ngồi lớp, chỉ thích đi khắp khu đất rộng của gia đình và những vùng quê lân cận. Năm mười hai tuổi, đi theo cha đến một vùng đất của gia đình ở Santiniketan, cậu chạy khắp những gò đồi nhỏ, những dòng suối nhỏ. Về sau ông viết, đại ý: tôi là nhà thám hiểm của vùng đất chưa ai khám phá ấy.
Ông làm thơ từ rất sớm. Năm một nghìn tám trăm chín mươi mốt, ông về miền Đông Bengal trông coi ruộng đất của gia đình, nay là đất nước Bangladesh. Ông hay ở trên một chiếc thuyền nhà, xuôi ngược trên sông Padma. Một người sinh ra ở thành phố lớn, lần đầu sống giữa làng quê, nhìn thấy đời sống của những người nông dân bình thường. Những truyện ngắn, những bài thơ về con người bình dị của ông lớn lên từ đó.
Năm một nghìn chín trăm linh một, ông lập một ngôi trường thử nghiệm ở Santiniketan, muốn kết hợp cái hay của truyền thống Ấn Độ với cái hay của phương Tây. Một cậu bé từng sợ lớp học, giờ đi mở trường, một ngôi trường mở ra với thiên nhiên. Hai mươi năm sau, ngôi trường nhỏ ấy trở thành một trường đại học.
Rồi những năm tháng khó nhất đời ông bắt đầu. Năm một nghìn chín trăm linh hai, vợ ông mất. Năm sau, cô con gái Renuka mất. Năm một nghìn chín trăm linh năm, cha ông mất. Năm một nghìn chín trăm linh bảy, cậu con trai út mất vì bệnh dịch tả, khi mới mười một tuổi. Năm năm, bốn lần tiễn người thân.
Mình đọc đến đây thì ngồi lặng đi một lúc. Ở tuổi tụi mình, ai cũng đã từng tiễn một người. Nhưng bốn người thân yêu nhất trong năm năm, mình không biết phải chịu đựng thế nào.
Vậy mà ông không đóng cửa lòng mình lại. Nhà nghiên cứu tiểu sử Uma Das Gupta, người Ấn Độ, viết rằng qua những mất mát ấy, thơ ông dần trở thành những lời dâng hiến, và ngôn ngữ của ông ngày càng giản dị, trực tiếp hơn. Như thể nỗi đau đã gột đi những chữ thừa. Còn chính ông, nhớ lại lần đầu biết mất mát thời trẻ, đã viết đại ý: khi cái quyến rũ của thế gian lỏng dần, vẻ đẹp của thiên nhiên lại mang một ý nghĩa sâu hơn.
Năm một nghìn chín trăm mười hai, ông tự dịch một số bài thơ tiếng Bengal sang tiếng Anh, in thành tập mà người Việt mình gọi là Thơ Dâng. Năm sau, ông được trao giải Nobel. Viện Hàn lâm Thụy Điển khen những vần thơ của ông, đại ý là nhạy cảm sâu sắc, tươi mới và đẹp đẽ. Người phương Tây thấy trong thơ ông sự bình an của một tâm hồn hòa với thiên nhiên, khác hẳn nhịp sống vội vã của họ.
Năm một nghìn chín trăm mười sáu, ông in tập thơ ngắn tên là Những cánh chim lạc. Trong đó có những câu chỉ dài một dòng mà người ta nhớ cả đời. Câu đầu tiên: những cánh chim lạc của mùa hè đến bên cửa sổ tôi, hát rồi bay đi. Câu thứ sáu chính là câu mình nhắc lúc đầu, về mặt trời và những vì sao.
Gần hai mươi lăm năm cuối đời, ông đi nói chuyện khắp châu Âu, châu Mỹ, Đông Á. Rồi vào cuối những năm một nghìn chín trăm hai mươi, khi đã ngoài sáu mươi tuổi, ông bắt đầu cầm cọ vẽ tranh, và vẽ rất nhiều. Một người đã làm thơ cả đời, đến tuổi già lại học thêm một cách mới để nói lòng mình.
Ông mất ngày bảy tháng tám năm một nghìn chín trăm bốn mươi mốt, ở chính thành phố Calcutta nơi ông sinh ra, thọ tám mươi tuổi.
Bạn ơi, câu thơ về mặt trời ấy, mình nghĩ nó không bảo mình đừng buồn. Nó chỉ bảo mình đừng khóc mãi. Mất một người thân, như mất mặt trời. Buồn là phải, khóc là thương. Nhưng nếu cứ ngồi mãi trong bóng tối mà khóc, mình sẽ không ngước lên, và sẽ không thấy những vì sao vẫn còn đó.
Những vì sao của tụi mình là gì? Là người bạn đời còn ngồi bên mình mỗi sáng. Là đứa cháu chạy vào nhà gọi ông, gọi bà. Là người bạn cũ vẫn gọi điện hỏi thăm. Là một buổi sáng có nắng, một chén trà nóng. Tagore mất vợ, mất con, mà vẫn ngồi viết thơ cho hai đứa con nhỏ còn lại. Ông không quên người đã mất. Ông chỉ không quên luôn những người còn ở lại.
Và đừng nghĩ mình già rồi thì không học được gì mới. Ông ngoài sáu mươi mới tập vẽ. Mình cũng có thể ngoài sáu mươi mới tập viết nhật ký, tập trồng một chậu lan, tập hát một bài mới. Có những nỗi buồn không nói được bằng lời, thì nói bằng một việc làm khác.
Trong tập Những cánh chim lạc, có một câu nữa mình muốn gửi lại bạn, nghe như một lời chúc cho tuổi già: hãy để đời sống đẹp như những đóa hoa mùa hạ, và cái chết như những chiếc lá mùa thu. Hoa mùa hạ thì rực rỡ. Lá mùa thu thì rơi nhẹ, không vội, không oán.
Tối nay, nếu trời quang, bạn thử ra hiên ngước lên một chút. Mặt trời đã lặn rồi, nhưng những vì sao vẫn đang chờ mình nhìn thấy.
Tình Ca. Ở đây có bình an.