Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Nguyễn Ngọc Ký - Mất đôi tay, nhưng cả đời gặp toàn người tốt
Một làng quê ở Hải Hậu, Nam Định, những năm sau một nghìn chín trăm năm mươi. Trên khoảng sân đất, một cậu bé ngồi thu lu, kẹp một viên gạch non giữa hai ngón chân, cặm cụi vạch từng nét chữ. Nét nào xiêu thì xóa đi, viết lại. Có khi phải viết hàng trăm lần mới được một con chữ tròn trịa. Trước đó, cậu đã thử viết bằng miệng. Còn đôi tay thì nằm yên hai bên người, không nhấc lên được nữa.
Cậu bé ấy là Nguyễn Ngọc Ký, về sau là thầy giáo, là nhà văn, người được ghi nhận là nhà văn Việt Nam đầu tiên viết chữ bằng chân. Thầy mất năm hai nghìn không trăm hai mươi hai. Hôm nay mình muốn kể bạn nghe về thầy, và về một câu thầy nói mà mình mang theo mãi: tôi không may bị liệt hai tay, nhưng bù lại cả đời gặp toàn người tốt.
Chào bạn,
Thầy sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, một vùng quê đồng ruộng. Khoảng bốn tuổi, một trận bệnh làm cậu bé bị liệt cả hai tay. Mình không biết hết những đêm cha mẹ cậu đã thức trắng thế nào. Chỉ biết rằng từ đó, đôi chân phải làm thay việc của đôi tay.
Bảy tuổi, cậu bắt đầu tập viết bằng chân. Viên gạch non trên sân, rồi dần được thay bằng cây bút và cuốn vở. Giờ thủ công, cậu phải làm một bài hàng trăm lần. Học hình học, cậu tập xoay cái com pa bằng chân hàng chục lần mới vẽ được một vòng tròn. Cậu còn học bơi bằng cách ôm một thân cây chuối. Đọc đến đây mình cứ nghĩ, có bao nhiêu việc mình làm mỗi ngày mà chưa từng thấy là quý.
Cậu bé ấy không chỉ đi học được, mà còn học giỏi. Năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba, cậu đạt giải năm kỳ thi học sinh giỏi toán toàn miền Bắc. Rồi cậu thi đỗ vào khoa Văn của trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, học từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi sáu đến năm một nghìn chín trăm bảy mươi.
Những năm ấy khó khăn, lớp học phải sơ tán lên vùng Đại Từ, Thái Nguyên. Bạn bè cùng lớp kể lại rằng họ đã đỡ đần anh Ký qua những trận ốm, những đêm học bên ngọn đèn dầu. Thầy hướng dẫn luận văn của anh là giáo sư Hoàng Như Mai. Anh là sinh viên duy nhất của khoa Văn có sách in ngay khi vừa tốt nghiệp, đó là cuốn tự truyện mang tên Tôi đi học.
Ra trường, anh về quê dạy văn. Một thầy giáo không cầm được viên phấn thì dạy thế nào? Thầy tự nghĩ ra cách. Thầy làm một tấm bảng có mành che, gắn ròng rọc, giảng đến đâu thì kéo mành xuống đến đó. Trên bảng chỉ ghi những ý cô đọng nhất, có khi chỉ là một hình vẽ đơn giản. Giờ giảng của thầy có những lời bình bằng thơ, có nhiều câu hỏi gợi mở.
Năm một nghìn chín trăm tám mươi ba, tiết dạy của thầy đoạt giải nhất hội giảng giáo viên dạy giỏi của tỉnh. Bộ tranh minh họa văn học thầy tự làm cũng được giải đồ dùng dạy học toàn quốc. Năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, thầy được phong nhà giáo ưu tú. Một học trò cũ nhớ lại, đại ý: tôi chưa bao giờ thấy thầy nổi cáu.
Khoảng năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, vì bệnh viêm cầu thận, thầy cùng gia đình vào Sài Gòn để chữa bệnh. Người thầy cũ là giáo sư Hoàng Như Mai lại giúp thầy tìm việc ở phòng giáo dục quận Gò Vấp. Mới vào được một tháng, thầy viết một bài báo có tên là Có một Sài Gòn nhân ái. Thầy làm việc ở đó cho đến khi nghỉ hưu năm hai nghìn không trăm linh năm.
Nghỉ hưu, thầy không nghỉ. Thầy làm tư vấn tâm lý qua điện thoại, nghe hàng nghìn người tâm sự. Thầy đi nói chuyện ở hơn một nghìn năm trăm trường học, lấy chân ký tên, cắt giấy cho học trò xem. Câu chuyện của thầy được đưa vào sách Tiếng Việt lớp bốn, với tên bài là Bàn chân kỳ diệu. Mà khi ấy, thầy đang phải chạy thận nhân tạo mỗi tuần ba lần, lịch đi nói chuyện phải xếp xen vào giữa những buổi chạy thận.
Thầy viết đến mấy chục đầu sách, có ba bài thơ được chọn vào sách Tiếng Việt tiểu học. Năm hai nghìn không trăm mười bảy, ở tuổi bảy mươi, trong lúc vẫn chạy thận, thầy ra mắt cuốn tự truyện cuối cùng tên là Tâm huyết trao đời, sau hai cuốn Tôi đi học và Tôi đi học đại học. Thầy nói niềm hạnh phúc lớn nhất của mình lúc ấy là thấy con cháu hiếu thảo, nên người.
Người vợ của thầy là chỗ dựa suốt đời, cả về sức lực lẫn tinh thần. Bạn bè kể rằng hai vợ chồng nổi tiếng là hay cười với nhau. Thầy dùng chân để ký sách, để chỉnh gọng kính, để cầm thìa ăn cơm, để gõ máy tính. Vậy mà những người gặp thầy đều nhớ một người điềm tĩnh, vui vẻ.
Thầy có nói một câu khi dự buổi ra mắt sách của một người bạn, đại ý: đôi khi không có cánh cửa nào mở sẵn cho mình, con người ta phải đi tìm một cánh cửa. Và khi được hỏi mục tiêu những năm cuối đời, thầy chỉ nói gọn: giữ tâm lành, sống vui.
Sáng sớm ngày hai mươi tám tháng chín năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, thầy ra đi tại nhà ở thành phố Thủ Đức, sau gần ba mươi năm chống chọi với bệnh tật, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi.
Bạn ơi, mình nghĩ mãi về câu nói của thầy. Bị liệt hai tay từ năm bốn tuổi, nếu thầy ngồi đếm những gì mình mất, thì đếm cả đời không hết. Vậy mà thầy lại chọn đếm những người tốt mình đã gặp. Người bạn đỡ thầy qua cơn ốm, người thầy cũ giúp thầy tìm việc, một Sài Gòn nhân ái, một người vợ hay cười.
Ở tuổi tụi mình, cơ thể cũng bắt đầu lấy lại từng thứ. Đầu gối không còn chạy được, mắt mờ đi, tai nghe không rõ, có người phải uống thuốc mỗi ngày. Dễ lắm, cái thói quen ngồi đếm những thứ mình đã mất. Thầy Ký dạy mình một cách đếm khác. Tối nay, trước khi ngủ, bạn thử đếm xem đời mình đã gặp bao nhiêu người tốt. Mình đoán là nhiều hơn bạn nghĩ đấy.
Rồi khi một việc gì đó không còn làm được theo cách cũ, thì như thầy, mình đi tìm một cánh cửa khác. Thầy không cầm được phấn thì làm tấm bảng có ròng rọc. Mình không đọc được chữ nhỏ thì nhờ cháu chỉnh chữ to trên điện thoại, không đi xa được thì gọi cho bạn cũ một cuộc điện thoại dài.
Và nếu phải chọn một mục tiêu cho những năm còn lại, mình xin mượn của thầy bốn chữ: giữ tâm lành, sống vui. Không cần to tát. Chỉ cần thế thôi, là đủ để mình đi hết đoạn đường còn lại một cách nhẹ nhàng.
Cảm ơn thầy, người đã viết bằng đôi chân những trang chữ mà nhiều người có đôi tay lành lặn chưa chắc viết nổi.
Tình Ca. Ở đây có bình an.