Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại

Michelangelo - Tuổi già vẫn còn đục đẽo, vẫn còn điều đẹp để làm

Thành Rome, đầu năm một nghìn năm trăm sáu mươi tư. Trong căn nhà của mình, một ông lão gần chín mươi tuổi vẫn đứng trước một khối đá cẩm thạch. Ông đang tạc tượng một người mẹ ôm lấy đứa con đã mất. Theo các tài liệu còn lại, ông làm việc với bức tượng ấy suốt cả một ngày, chỉ sáu ngày trước khi qua đời. Bức tượng mãi mãi không xong.

Ông lão ấy là Michelangelo, nhà điêu khắc, họa sĩ và kiến trúc sư người Ý, người tạc tượng chàng David và vẽ trần nhà nguyện Sistine mà ai đến Rome cũng ngước nhìn. Hôm nay mình muốn kể bạn nghe về ông, không phải về thiên tài, mà về một điều rất đời: ở tuổi nào, con người cũng vẫn còn có thể làm một điều đẹp.

Chào bạn,

Ông sinh ngày sáu tháng ba năm một nghìn bốn trăm bảy mươi lăm, ở một làng nhỏ gần thành Florence. Năm ông sáu tuổi, mẹ ông mất. Cậu bé được gửi về sống với một bà vú nuôi có chồng làm thợ đẽo đá, ở một vùng có mỏ đá cẩm thạch của gia đình. Người ta tin rằng tình yêu với đá của ông bắt đầu từ những ngày nghe tiếng búa đục ở đó.

Mười ba tuổi, ông vào học việc ở xưởng của một họa sĩ có tiếng ở Florence. Chẳng bao lâu, ông được nhà Medici, một gia đình quyền thế và mê nghệ thuật, đón về học. Năm mười bảy tuổi, một bạn học nóng tính đấm vỡ mũi ông. Cái mũi gãy ấy theo ông cả đời, ta vẫn thấy trên các bức chân dung. Thiên tài cũng có cái mũi méo, và cũng từng bị bạn bè ăn hiếp như ai.

Năm hai mươi bốn tuổi, ông hoàn thành bức tượng người mẹ ôm con đầu tiên, nay đặt ở Rome. Đó là tác phẩm duy nhất ông khắc tên mình lên. Rồi năm một nghìn năm trăm linh tư, khi chưa đến ba mươi, ông hoàn thành tượng chàng David khổng lồ ở Florence. Từ một khối đá thô, ông làm ra một con người như đang thở.

Năm một nghìn năm trăm linh tám, ông được giao vẽ trần nhà nguyện Sistine ở Vatican. Ông coi mình là thợ tạc đá, đâu phải họa sĩ vẽ tường. Vậy mà ông nhận, và suốt bốn năm trời, ông đứng trên giàn giáo, ngửa cổ lên trần mà vẽ.

Ông có viết một bài thơ gửi người bạn tên là Giovanni, kể khổ một cách vừa thật vừa buồn cười. Đại ý là cổ ông như sưng lên vì ngửa mãi, cây cọ trên đầu cứ nhỏ sơn xuống mặt ông. Câu cuối ông than, đại ý: tôi đang ở sai chỗ, tôi đâu phải là họa sĩ.

Vậy mà cái người tự nhận mình không phải họa sĩ ấy đã để lại một trong những bức vẽ lớn nhất của loài người. Nhà thơ người Đức Goethe, gần ba trăm năm sau, viết đại ý rằng ai chưa thấy nhà nguyện Sistine thì không thể hình dung được một con người có thể làm được đến đâu.

Đời thường, ông là một người khá lạ. Ông giàu, nhưng ăn uống đạm bạc, có khi ngủ luôn trong quần áo và đôi ủng. Người học trò viết tiểu sử cho ông ghi lại câu ông nói, đại ý: dù tôi giàu đến đâu, tôi vẫn luôn sống như một người nghèo. Nhưng ông cũng không khô khan như người ta tưởng. Một nhà nghiên cứu đã đọc hơn một nghìn bốn trăm lá thư còn lại của ông kể rằng, ông rất vui tính, thích chuyện trò, thích cười.

Rồi đến đoạn mình thích nhất. Năm một nghìn năm trăm bốn mươi sáu, khi đã bảy mươi mốt tuổi, ông được giao trông coi việc xây đại giáo đường Thánh Phêrô ở Rome, một công trình đang dang dở nhiều năm. Ông phản đối, đại ý: tôi đâu phải là kiến trúc sư. Ông đã già, ông chỉ mong được về lại Florence. Thời ấy, nhiều người không sống quá bốn mươi lăm tuổi.

Vậy mà ông vẫn nhận. Và ông dành trọn mười tám năm cuối đời cho công trình ấy. Nhà nghiên cứu William Wallace, người Mỹ, viết rằng ông không bao giờ nghỉ hưu, và chính công việc ấy đã cho ông thêm sức lực và sinh khí. Trong hai mươi năm cuối đời, ông còn làm thêm mấy công trình kiến trúc lớn khác, góp phần làm nên thành Rome mà ta thấy ngày nay.

Bạn để ý không, hai lần trong đời, ông nói: tôi không phải họa sĩ, tôi không phải kiến trúc sư. Và cả hai lần, ông vẫn bắt tay vào làm, và học trong lúc làm. Ông không đợi mình giỏi rồi mới làm. Ông làm, rồi giỏi lên trong lúc làm. Ở tuổi bảy mươi mốt, ông học gần như một nghề mới, học cách tính những bức tường, những mái vòm, và trông coi cả mấy trăm người thợ.

Còn bức tượng người mẹ ôm con cuối đời, ông bắt đầu từ năm bảy mươi bảy tuổi. Ông đục đi, sửa lại, đục nữa, cho đến khi gần như không còn đủ đá để đục. Ông mất ngày mười tám tháng hai năm một nghìn năm trăm sáu mươi tư, thọ tám mươi tám tuổi. Theo ý nguyện, ông được đưa về an táng ở Florence, thành phố ông thương. Bức tượng dở dang ấy nay ở một lâu đài tại thành Milan, và người ta đứng lặng trước nó, chính vì nó dở dang.

Trên mạng hay lan truyền câu nói, tôi vẫn đang học, rằng ông nói lúc tám mươi bảy tuổi. Thật ra các nhà nghiên cứu cho rằng đó là một câu châm ngôn phổ biến thời ấy, bị gán nhầm cho ông. Nhưng cái hay là, dù không phải lời ông, thì đời ông lại đúng là như vậy.

Bạn ơi, tụi mình ở tuổi này hay nói một câu: thôi, tôi già rồi. Hay là: cái đó tôi đâu có biết. Michelangelo cũng nói y như vậy, ở tuổi bảy mươi mốt. Chỉ khác là sau câu nói ấy, ông vẫn cầm bút, vẫn cầm đục.

Mình không cần xây một giáo đường. Nhưng mình có thể học cách gọi video cho đứa cháu ở xa, tập vài bài hát mới, trồng lại giàn mướp sau nhà, hay viết vài trang kể chuyện ngày xưa cho con cháu đọc. Tuổi tụi mình có một cái lợi mà người trẻ không có: mình đâu còn phải chứng minh gì với ai. Học cái mới chỉ vì thích, làm chậm cũng được, làm sai cũng chẳng sao. Cái mới không làm mình già đi. Nó làm mình sống thêm.

Và đừng sợ việc mình làm sẽ còn dở dang. Đời ai rồi cũng có một bức tượng chưa xong. Một căn nhà chưa sửa xong, một cuốn sách chưa đọc hết, một lời thương chưa nói trọn. Bức tượng cuối của Michelangelo dạy mình rằng, cái dở dang mà làm bằng cả tấm lòng, vẫn đẹp.

Sáng mai, nếu bạn thấy mình còn đủ sức, thử nhận một việc nhỏ mà bạn vẫn nghĩ là mình không biết làm. Biết đâu, như ông lão thành Rome năm xưa, bạn cũng sẽ thấy mình còn rất nhiều điều đẹp để làm.

Tình Ca. Ở đây có bình an.