Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Lương Định Của - Điều quý nhất mình giữ được là hạt giống cho đời sau
Năm một nghìn chín trăm năm mươi hai, ở bến cảng Hồng Kông, có một người đàn ông Việt Nam ngoài ba mươi tuổi đang trên đường từ Nhật trở về quê. Đến nơi thì giấy tờ, tiền bạc mất sạch. Nhưng có một thứ ông mang sát bên người suốt dọc đường, và nó còn nguyên vẹn. Đó là một va li đựng toàn hạt giống lúa. Mất tiền thì ông tiếc. Nhưng còn va li hạt giống ấy, là ông còn tất cả.
Chào bạn,
Người đàn ông ấy là Lương Định Của, nhà nông học mà bà con nông dân nhiều vùng quen gọi thân mật là bác Của. Tên ông về sau gắn với những giống lúa, giống dưa, giống khoai mà bà con tự đặt, như dưa hấu ông Của, lúa ông Của. Hôm nay mình muốn kể bạn nghe về ông, về những hạt giống, và về điều mà mỗi người chúng ta để lại cho đời sau.
Ông sinh ngày mười sáu tháng Tám năm một nghìn chín trăm hai mươi, ở làng Đại Ngãi, vùng Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, giữa miền sông nước Cửu Long. Mới mười hai, mười ba tuổi, ông đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, phải nương nhờ người thân. Vậy mà cậu bé ấy vẫn học giỏi, mười bảy tuổi đã đậu tú tài ở Sài Gòn.
Rồi ông đi xa. Sang Hồng Kông học y và tiếng Anh, sang Thượng Hải học kinh tế, đến khi thời cuộc làm trường đóng cửa, ông qua Nhật Bản. Ông vào Đại học Kyushu, theo ngành trồng trọt, và tốt nghiệp nông học loại giỏi. Sau đó ông được giữ lại làm nghiên cứu. Ông đi học xa như vậy, nhưng trong lòng lúc nào cũng nghĩ đến quê nhà, đến đồng lúa, đến người nông dân.
Ở Nhật, ông gặp cô Nakamura Nobuko, một cô gái làm việc trong phòng thí nghiệm. Chuyện tình của họ dễ thương lắm. Anh sinh viên nghèo không có tiền mua quà, bèn đến nhờ cô may giúp một chiếc áo sơ mi. Những ngày khan hiếm, anh mang thức ăn đến biếu gia đình cô, và gọi cha mẹ cô là cha ơi, mẹ ơi, bằng tiếng Việt. Bà mẹ thương chàng trai ấy, rồi đồng ý gả con gái.
Năm một nghìn chín trăm năm mươi mốt, ông bảo vệ luận án về phương pháp đa bội thể để tạo ra giống lúa mới, và được trao học vị bác sĩ nông học, học vị cao nhất của Nhật thời ấy. Ông là người trẻ nhất và là người nước ngoài duy nhất nhận học vị này. Một tương lai rộng mở ở xứ người đã sẵn đó. Nhưng năm sau, ông chọn về nước, mang theo người vợ Nhật và cái va li hạt giống.
Ông về Sài Gòn trước. Đến năm một nghìn chín trăm năm mươi tư, ông đưa cả nhà ra Hà Nội làm việc. Từ đó, gần như cả đời ông là ruộng thí nghiệm. Dù đã là phó hiệu trưởng một trường đại học nông nghiệp, ngoài giờ lên lớp, ông vẫn xắn quần lội ruộng như một người nông dân thực thụ. Chỗ làm việc của ông là một căn phòng rất giản dị.
Có một chuyện người ta hay kể. Lần nọ ông về một làng quê, bà con thấy mấy người trên thành phố xuống thì nghi ngờ, nghĩ người thành phố biết gì chuyện cấy hái. Ông không nói nhiều. Ông bước xuống xe, lội ngay xuống ruộng, cầm mạ cấy thoăn thoắt, hàng nào hàng nấy thẳng tắp. Bà con đứng trên bờ nhìn, rồi tin.
Ông mang về những cách làm học được từ Nhật, mà nghe thì giản dị vô cùng. Đắp bờ vùng, bờ thửa cho ruộng giữ nước đều. Cấy nông tay, cấy thẳng hàng, cấy đúng mật độ để cây lúa có chỗ thở, có ánh nắng. Hàng triệu bà con làm theo, năng suất lên dần, có nơi đạt năm tấn lúa trên một héc ta, điều mà trước đó nhiều người chưa dám mơ.
Còn hạt giống, đó là niềm say mê cả đời ông. Ông lai giống lúa Ba Thắc của miền Nam với một giống lúa của Nhật, ra giống lúa mà nhiều tài liệu gọi là giống lúa lai đầu tiên của Việt Nam, tên là Nông nghiệp một. Rồi lúa chiêm, lúa mùa muộn, lúa xuân sớm. Ông còn tạo ra dưa hấu, dưa lê, khoai lang, cà chua, đu đủ, rau muống, giống nào hợp đất, hợp người trồng. Một nhà khoa học đồng nghiệp nói ông là người đầu tiên ở Việt Nam chọn giống theo nền di truyền học hiện đại.
Thế nhưng điều làm mình cảm động nhất là cái tên bà con đặt. Không ai bắt, không ai ra lệnh, nông dân tự gọi đó là dưa ông Của, lúa ông Của, khoai ông Của. Họ gọi ông là nhà bác học của đồng ruộng. Một nhà khoa học được người nông dân giữ tên mình trong từng mùa vụ, mình nghĩ đó là phần thưởng lớn nhất.
Ở nhà, bà Nobuko kể ông là người chồng chia sẻ công việc với vợ, chăm con, lại hay giục vợ học thêm ngoại ngữ. Ông giỏi tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật. Hai ông bà có năm người con, ba người theo nghề nông như cha.
Cuối tháng Mười Hai năm một nghìn chín trăm bảy mươi lăm, cả nhà đang chuẩn bị chuyển vào Sài Gòn. Ông có biết bao dự định với ruộng đồng miền Nam quê ông. Chỉ còn hai ngày nữa là lên đường, thì ông lên cơn đau tim và ra đi đột ngột ở Hà Nội, mới năm mươi lăm tuổi. Bao nhiêu kế hoạch còn dang dở.
Bà Nobuko ở lại Việt Nam với các con, sống thêm gần nửa thế kỷ. Bà nói bà sống ở đây rất dễ chịu, bà thích mặc áo dài. Người ta hỏi vì sao bà ở lại, bà trả lời một câu nghe như thơ: vì cơn gió thổi từ Hà Nội. Bà mất năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, khi đã ngoài trăm tuổi. Ông được truy tặng giải thưởng cao quý nhất về khoa học kỹ thuật của nước nhà.
Bây giờ mình nghĩ lại chuyện cái va li ở bến cảng năm xưa. Mất giấy tờ, mất tiền bạc, ông vẫn không lo bằng mất hạt giống. Vì tiền thì kiếm lại được. Còn hạt giống, đó là mùa lúa của bao nhiêu người, bao nhiêu năm sau.
Ở tuổi chúng ta, ai cũng đang cầm trong tay một cái va li như vậy. Có người lo để lại cho con căn nhà, cuốn sổ tiết kiệm. Điều đó cũng tốt. Nhưng hạt giống quý nhất mình để lại cho con cháu có khi lại là một thói quen siêng năng, một lời nói thật thà, một cách cư xử tử tế với hàng xóm. Những thứ ấy, nếu mình không gieo, sau này chẳng ai mua lại được.
Bài học thứ hai mình học ở ông là sự khiêm nhường. Học vị cao nhất xứ người, mà vẫn lội bùn cấy mạ cùng bà con. Vẫn tin rằng muốn người ta nghe mình thì mình phải làm trước cho người ta thấy. Về già, mình nói với con cháu cũng vậy. Một việc làm trước mắt chúng nó, nặng hơn trăm lời dặn dò.
Lần tới, khi bạn cầm lên một bát cơm trắng, hay bổ một trái dưa hấu đỏ mát ngày hè, thử nhớ tới người đàn ông ôm va li hạt giống ở bến cảng năm ấy. Rồi tự hỏi mình một câu nhẹ thôi: hôm nay mình đã gieo được hạt giống nào cho con cháu chưa?
Tình Ca. Ở đây có bình an.