Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Nguyễn Đình Chiểu - Mất đôi mắt, không mất tấm lòng
Có một chàng trai miền Nam, ngoài hai mươi lăm tuổi, đang ở kinh thành Huế chờ ngày vào trường thi. Bao nhiêu năm đèn sách chỉ đợi có ngày ấy. Thì tin nhà báo ra: mẹ đã mất. Chàng bỏ thi, lên đường về Nam chịu tang. Đường thiên lý xa ngái, thời tiết khắc nghiệt, lòng thương mẹ đứt ruột. Chàng khóc mẹ nhiều quá, lại đổ bệnh nặng dọc đường, và đôi mắt mù hẳn, không còn thấy gì nữa.
Chàng trai ấy về sau được người dân gọi bằng một cái tên thân thương: cụ Đồ Chiểu. Đó là Nguyễn Đình Chiểu, người viết truyện thơ Lục Vân Tiên, mà ông bà mình ở miền Nam ngày xưa, có người không biết chữ, vẫn thuộc làu từng câu.
Chào bạn,
Nguyễn Đình Chiểu sinh năm một nghìn tám trăm hai mươi hai, ở làng Tân Thới, đất Gia Định, nay thuộc đất Sài Gòn. Cha ông là cụ Nguyễn Đình Huy, người xứ Huế vào Nam làm việc, mẹ là bà Trương Thị Thiệt, người Gia Định. Năm mười hai tuổi, ông theo cha ra Huế học, ở đó tới năm mười chín tuổi mới về.
Năm hai mươi mốt tuổi, ông đỗ tú tài ở trường thi Gia Định. Tương lai trước mắt sáng rỡ. Có một nhà họ Võ đã hứa gả con gái cho ông. Ông lại ra Huế học thêm, chờ khoa thi lớn. Rồi cái tin dữ mà mình kể lúc nãy đã đổi hết cả cuộc đời ông.
Mù rồi, ông còn mất thêm một thứ nữa. Gia đình đã hứa hôn thấy ông tàn tật, liền từ hôn. Bạn thử nghĩ coi, một chàng trai ngoài hai mươi, mới hôm qua còn là ông tú được người ta trọng vọng, hôm nay mất mẹ, mất đôi mắt, mất luôn người vợ sắp cưới. Nhiều người tới chỗ ấy sẽ buông xuôi. Ông thì không.
Trên đường về, ông dừng lại ở đất Quảng Nam chữa mắt. Mắt không khỏi, nhưng ở đó ông theo học nghề thuốc với một thầy thuốc giỏi. Về lại Gia Định, ông mở một trường dạy học nhỏ. Học trò kéo tới ngày một đông. Người ta gọi ông là ông Đồ Chiểu, chữ đồ nghĩa là thầy đồ, thầy dạy chữ. Ông vừa dạy chữ, vừa bốc thuốc chữa bệnh cho bà con trong xóm.
Một người thầy không thấy mặt học trò, mà dạy được cả lễ nghĩa lẫn văn chương. Một thầy thuốc không nhìn thấy bệnh nhân, mà bắt mạch, hỏi han, nghe giọng nói mà chữa. Mình nghĩ tới mà thấy nể. Đôi mắt mất rồi, nhưng đôi tai, bàn tay và tấm lòng của ông thì càng tinh hơn. Học trò thương thầy, bệnh nhân tin thầy, tiếng lành cứ thế đồn xa.
Rồi duyên lành cũng tới. Có một học trò của ông, thương thầy, đã xin gả em gái của mình là bà Lê Thị Điền cho thầy. Đó là năm một nghìn tám trăm năm mươi tư. Hai người nên vợ nên chồng, gắn bó với nhau hơn ba chục năm, cho tới khi bà mất trước ông hai năm. Cái nghĩa ấy, người đời sau nhắc tới vẫn thấy ấm lòng.
Sau đó thời cuộc đổi thay, đất Nam Bộ bước vào những năm loạn lạc, ông đưa gia đình về sống ở Ba Tri, Bến Tre, và ở đó cho tới cuối đời. Mình xin chỉ nói vậy thôi, để còn dành thời gian kể về cuốn sách mà ông để lại.
Lục Vân Tiên là một truyện thơ viết bằng chữ Nôm theo thể lục bát, dài hai ngàn không trăm tám mươi hai câu, ông viết sau những năm chịu tang mẹ. Một người viết sách bằng đôi mắt đã mù, bạn nghĩ coi, phải nhớ, phải nghĩ, phải nghe lại từng câu biết bao nhiêu lần.
Chàng Vân Tiên trong truyện là một học trò nghèo mà nghĩa khí. Trên đường đi thi, gặp bọn cướp đang chặn xe một cô gái, chàng xông vào cứu. Chàng nghĩ: “Nhớ câu kiến nghĩa bất vi, làm người thế ấy cũng phi anh hùng”, tức là thấy việc nghĩa mà không làm thì đâu phải người tử tế. Cô gái là Kiều Nguyệt Nga, muốn đền ơn, thì chàng đáp: “Làm ơn há dễ trông người trả ơn”.
Rồi bạn có thấy không, chuyện của Vân Tiên giống chuyện của chính tác giả. Vân Tiên cũng đang đi thi thì hay tin mẹ mất, cũng khóc mẹ tới mù mắt, cũng bị nhà vợ chưa cưới từ hôn, còn bị kẻ xấu hãm hại. Nhưng bên cạnh chàng luôn có người tốt. Có cậu tiểu đồng trung thành không rời chủ, có người bạn nghĩa khí, và có Nguyệt Nga một lòng chung thủy. Cuối truyện, mắt Vân Tiên sáng lại, người ngay được đền đáp.
Trong truyện còn có ông Quán, nói một câu mà mình rất thích: “Vì chưng hay ghét cũng là hay thương”. Ông ghét điều ác, chính là vì ông thương người. Cuốn truyện ấy được người miền Nam thương lắm. Có người nước ngoài thời đó ghi lại rằng ở Nam Kỳ, người chèo ghe vừa chèo vừa ngâm vài câu Lục Vân Tiên. Rồi có cả lối nói thơ Vân Tiên, truyền miệng từ đời này qua đời khác.
Ông còn viết một truyện thơ dài về nghề thuốc, tên là Ngư Tiều y thuật vấn đáp, nghĩa là ông chài với bác tiều phu hỏi đáp nhau về việc học thuốc. Trong đó ông ghi lại những phép chữa bệnh mình đã dùng, và gửi gắm cả cái đạo của người làm thuốc.
Ngày ba tháng Bảy năm một nghìn tám trăm tám mươi tám, cụ Đồ Chiểu mất trong căn nhà nhỏ ở Ba Tri, thọ sáu mươi sáu tuổi. Người ta truyền lại rằng ngày đưa tang cụ, cánh đồng An Bình Đông phủ trắng khăn tang của những người thương mến cụ. Ngày nay, những ngôi trường dạy trẻ khiếm thị ở nước mình mang tên ông, như một lời nhắc rằng mất đôi mắt không có nghĩa là mất con đường.
Giờ mình nói chuyện tụi mình. Tới tuổi này, đời bắt đầu lấy bớt của mình nhiều thứ. Mắt mờ đi, tai lãng đi, chân chậm lại. Có người mất người bạn đời, có người mất của cải, có người bị chính người thân làm cho tổn thương. Những lúc ấy, mình dễ thấy mình chẳng còn gì.
Cụ Đồ Chiểu nhắc mình rằng có một thứ không ai lấy được, đó là tấm lòng. Mắt mờ thì còn đôi tai để nghe con cháu tâm sự. Chân yếu thì còn cái miệng để kể chuyện xưa, dạy cháu một câu ca dao. Ít tiền thì còn chữ tín, còn cái nghĩa với vợ chồng, với bạn bè, với hàng xóm. Những thứ ấy, càng già càng quý.
Và câu “làm ơn há dễ trông người trả ơn”, mình nghĩ cha mẹ nào cũng nên giữ trong lòng. Mình nuôi con, giúp cháu, đâu phải để chờ ngày tụi nhỏ đền đáp. Cứ thương mà làm. Còn chuyện nghĩa tình, như cụ Đồ Chiểu đã sống, thì tự nó sẽ ở lại, lâu hơn cả một đời người.
Tình Ca. Ở đây có bình an.