Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại

Louis Braille - Từ vết thương của mình, mở đường cho người khác

Trong một xưởng làm yên cương ngựa ở một ngôi làng nhỏ nước Pháp, có một cậu bé ba tuổi đang bắt chước cha mình. Cha cậu ngày nào cũng cầm cái dùi nhọn đục lỗ trên những miếng da. Cậu bé cũng cầm lấy một cái, cúi sát xuống mà đục. Chiếc dùi trượt tay, đâm thẳng vào một bên mắt.

Vết thương nhiễm trùng, rồi lan sang mắt bên kia. Tới năm năm tuổi, cậu bé không còn thấy gì nữa. Vậy mà chính đứa trẻ ấy, mười năm sau, lại nghĩ ra một thứ chữ giúp hàng triệu người mù trên thế giới đọc được sách, viết được thư. Cậu tên là Louis Braille.

Chào bạn,

Louis Braille sinh ngày bốn tháng Giêng năm một nghìn tám trăm linh chín, ở làng Coupvray, cách thủ đô Paris chừng bốn chục cây số về phía đông. Cậu là con út trong nhà có bốn anh chị em. Cha là thợ làm yên cương, đồ da cho ngựa, mẹ lo việc nhà. Một gia đình bình thường, lam lũ, nhưng thương con hết lòng.

Sau tai nạn, cha mẹ cậu không giấu con trong nhà. Người cha làm cho cậu một cây gậy để tự dò đường đi khắp làng. Bảo tàng ở quê ông còn kể rằng cậu học mặt chữ bằng những cây đinh đóng lên một tấm ván gỗ, sờ từng hình mà nhớ. Ông cha xứ trong làng dạy cậu học, rồi cậu được ngồi chung lớp với trẻ con sáng mắt suốt ba năm, mà còn là một trong những trò giỏi nhất.

Tháng Hai năm một nghìn tám trăm mười chín, cậu bé mười tuổi xa nhà lên Paris, vào học ở Học viện Hoàng gia dành cho trẻ mù. Đó là một trong những trường đầu tiên trên thế giới dạy trẻ mù đọc chữ. Nhưng sách ở đây làm bằng những chữ cái thường được in nổi lên, to và nặng. Một cuốn sách mỏng thôi cũng dày cộm, lại đắt tiền, nên cả trường chẳng có được bao nhiêu cuốn. Học trò sờ rất chậm, và nhất là không ai tự viết được.

Năm cậu mười hai tuổi, có một người cựu sĩ quan tên Charles Barbier tới trường giới thiệu một cách viết bằng chấm nổi. Ông nghĩ ra nó để người ta đọc tin trong bóng tối, không cần đèn. Mỗi ký hiệu có tới mười hai chấm, ghi theo âm đọc chứ không theo mặt chữ. Học trò mù thích lắm, vì lần đầu tiên tụi nhỏ có thể tự viết. Nhưng mười hai chấm thì quá lớn, đầu ngón tay không chạm hết một lần.

Cậu bé Louis bắt đầu mày mò. Ban ngày học, ban đêm và cả những kỳ nghỉ hè về quê, cậu ngồi đục những chấm nhỏ lên giấy, bỏ bớt, sắp lại, thử tới thử lui. Ba năm trời như vậy. Tới năm mười lăm tuổi, cậu đưa ra cho bạn bè xem một cách viết chỉ dùng sáu chấm, xếp thành hai cột, mỗi cột ba chấm. Sáu chấm ấy vừa khít dưới một đầu ngón tay.

Từ sáu chấm, cậu tìm ra hơn sáu chục cách sắp xếp, đủ cho chữ cái, dấu câu, con số. Về sau, chàng thanh niên ấy còn làm thêm ký hiệu cho nốt nhạc, vì chính anh cũng chơi đàn ống trong nhà thờ và kéo đàn cello rất hay. Năm hai mươi tuổi, anh in cuốn sách đầu tiên giải thích cách viết của mình.

Rồi anh ở lại trường làm thầy giáo, dạy lịch sử, hình học, đại số cho chính những đứa trẻ mù như mình ngày xưa. Có một chi tiết mình rất thích. Năm một nghìn tám trăm ba mươi ba, anh gặp lại ông Barbier, người có cách viết mà anh đã sửa gần hết, và hai người trở thành bạn. Không ai giành công, không ai giận hờn.

Nhưng con đường không trải hoa hồng. Những người sáng mắt quản lý trường quen với lối chữ in nổi cũ, họ không chịu thứ chữ chấm lạ lùng này. Có thời gian, một vị giám đốc còn cấm hẳn học trò dùng nó. Người ta kể học trò vẫn lén viết cho nhau trong phòng ngủ, vì với tụi nhỏ, đó là lần đầu tiên chữ nghĩa thuộc về chính mình.

Sức khỏe của thầy Braille thì yếu dần. Từ khoảng hai mươi bốn tuổi, ông mắc bệnh lao phổi. Ngoài bốn mươi, ông phải thôi dạy, thôi chơi đàn ở nhà thờ. Ngày sáu tháng Giêng năm một nghìn tám trăm năm mươi hai, ông mất ở Paris, vừa qua sinh nhật bốn mươi ba tuổi được hai ngày. Lúc ấy, chính ngôi trường của ông vẫn chưa chính thức dùng thứ chữ ông làm ra.

Phải hai năm sau khi ông mất, trường mới chính thức đưa chữ sáu chấm vào dạy. Rồi nó đi khắp thế giới. Một trăm năm sau ngày mất, nước Pháp đưa hài cốt ông về an táng ở điện Panthéon, nơi dành cho những người con được kính trọng nhất. Riêng đôi bàn tay của ông thì được để lại, chôn ở quê nhà Coupvray. Đôi bàn tay đã đục những chấm nhỏ đầu tiên.

Chữ của ông cũng về tới nước mình từ cuối thế kỷ mười chín. Người ta thêm vào những ký hiệu cho các thanh hỏi, ngã, sắc, huyền, nặng, để người khiếm thị Việt Nam đọc được tiếng mẹ đẻ. Mình hay gọi giản dị là chữ nổi. Ngày nay, ngày bốn tháng Giêng, sinh nhật ông, được chọn làm ngày chữ nổi thế giới.

Mình ngồi nghĩ hoài về cái dùi trong xưởng da ấy. Một vật nhỏ đã lấy đi đôi mắt của một đứa trẻ. Rồi cũng một cây bút nhọn nhỏ xíu, đục từng chấm lên giấy, lại mở ra đôi mắt thứ hai cho biết bao người. Ông không chọn được nỗi đau của mình. Nhưng ông chọn được việc mình làm với nỗi đau ấy.

Tới tuổi bạn với mình, ai cũng có vài vết thương. Có người từng mất con, có người từng trắng tay, có người mang bệnh mấy chục năm. Mình để ý, những người hiểu nỗi đau nhất lại thường là người an ủi giỏi nhất. Người từng nằm viện lâu biết ngồi bên giường bệnh nhân mà không nói câu thừa. Người từng nghèo biết cách cho mà không làm người nhận phải ngại.

Bạn thử nhìn lại vết thương của mình coi, biết đâu nó cũng là một tấm bản đồ. Kinh nghiệm vượt qua một cơn bệnh, cách mình gượng dậy sau một lần đổ vỡ, đem kể cho một người đang khổ y như vậy, có khi lại là cây gậy dò đường cho họ.

Còn một điều nữa. Thầy Braille mất mà không kịp thấy chữ của mình được công nhận. Ông vẫn cứ làm, vẫn cứ dạy, như người trồng cây mà biết mình không kịp ngồi dưới bóng mát. Bạn với mình cũng vậy. Có những điều tốt mình gieo cho con cháu hôm nay, có khi mai mốt mình không còn để thấy nó nở hoa. Nhưng không sao. Đôi bàn tay mình đã làm, vậy là đủ.

Tình Ca. Ở đây có bình an.