Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Lê Quý Đôn - Học là chuyện của cả một đời
Có một cậu bé chừng bảy tuổi, đang tắm sông thì nghịch ngợm trêu một vị khách đi ngang. Về nhà, cậu bị cha mắng vì cái tội ham chơi biếng học. Ai dè vị khách lại là bạn của cha. Ông cười, bảo muốn ta bỏ qua thì làm một bài thơ đi, đề là “Rắn đầu biếng học”. Người ta kể rằng cậu bé đứng một lát rồi đọc liền tám câu, câu nào cũng khéo giấu tên một loài rắn, mà câu cuối lại là lời hứa: “Từ nay trâu lỗ xin siêng học”.
Cậu bé ấy về sau được nhiều thế hệ người Việt gọi bằng ba chữ rất kính trọng: nhà bác học. Đó là Lê Quý Đôn. Nhưng hôm nay mình không định kể về một thần đồng. Mình muốn kể về một ông lão vẫn cặm cụi đọc và ghi chép cho tới những năm cuối đời. Chuyện đó, nghĩ kỹ, có dính dáng tới cả bạn với mình, những người đã qua tuổi đến trường từ lâu.
Chào bạn,
Lê Quý Đôn lúc nhỏ tên là Lê Danh Phương, sinh năm một nghìn bảy trăm hai mươi sáu, ở làng Diên Hà, trấn Sơn Nam. Vùng ấy xưa nay quen gọi là đất Thái Bình, giờ là xã mang tên ông, thuộc tỉnh Hưng Yên. Cha ông là cụ Lê Trọng Thứ, một người đỗ tiến sĩ. Nhà có nếp chữ nghĩa, nên đứa trẻ lớn lên giữa mùi giấy mực, giữa tiếng đọc bài của người lớn mỗi tối.
Các tài liệu kể rằng mới năm tuổi, cậu đã thuộc nhiều bài trong Kinh Thi, một bộ thơ cổ mà người đi học thời ấy phải học. Mười hai tuổi, cậu đã đọc khắp các sách kinh truyện. Mười bảy tuổi, cậu đỗ đầu kỳ thi Hương. Hai mươi bốn tuổi, đỗ đầu kỳ thi Hội. Hai mươi sáu tuổi, năm một nghìn bảy trăm năm mươi hai, đỗ Bảng nhãn, đứng đầu kỳ thi Đình năm ấy.
Nếu chuyện chỉ dừng ở bảng vàng thì nó cũng giống trăm ngàn chuyện khoa cử khác. Cái làm mình thương ông lại là một thói quen rất nhỏ, rất đời thường. Ông đọc gì cũng ghi lại. Đi đâu, thấy gì, nghe ai kể gì, ông cũng chép lại, rồi đem so với sách vở, xem chỗ nào đúng, chỗ nào sai, chỗ nào sách xưa chưa nói tới.
Mới ngoài hai mươi tuổi, ông đã bắt tay soạn một bộ sử lớn, sau này gọi là Đại Việt thông sử. Mấy năm sau, ông viết bộ Quần thư khảo biện, nghĩa là đọc nhiều sách rồi xét lại cho kỹ. Ông không học để thuộc lòng rồi khoe. Ông học như người ta đi chợ mỗi ngày, gom từng chút, cân từng chút, rồi mang về nấu thành bữa cơm cho cả nhà cùng ăn.
Năm một nghìn bảy trăm sáu mươi, ông được cử đi sứ sang phương Bắc. Đường xa cả năm trời, người khác có lẽ chỉ mong sớm về. Còn ông thì vừa đi vừa ghi, sau gom lại thành sách Bắc sứ thông lục. Ở đó ông gặp gỡ, trò chuyện bằng bút với các học giả nước ngoài. Một vị sứ thần người Triều Tiên, đọc sách của ông, đã khen đại ý rằng chỉ cần nếm một miếng cũng đủ biết vị ngon của cả nồi.
Về sau ông làm quan hơn ba mươi năm, đi nhiều nơi, giữ nhiều việc. Chuyện triều đình thời ấy rối rắm lắm, mình xin không kể. Mình chỉ để ý một điều: dù bận bịu đến đâu, cuốn sổ ghi chép của ông chưa bao giờ đóng lại.
Năm bốn mươi bảy tuổi, ông hoàn thành Vân đài loại ngữ, một bộ sách được xem như bách khoa của người Việt thời ấy. Trong đó có đủ cả, từ chuyện trời đất, núi sông, cho tới chữ nghĩa, sách vở, cây cỏ và đồ dùng hằng ngày. Ông xếp từng điều theo loại, như người ta xếp đồ trong một cái tủ lớn, để ai cần thì mở ra mà tìm.
Năm năm mươi tuổi, ông viết Phủ biên tạp lục, ghi chép tỉ mỉ về đất đai, sản vật, phong tục của vùng Thuận Hóa, Quảng Nam. Năm năm mươi mốt tuổi, ông xong Kiến văn tiểu lục. Cái tên ấy nghe thì to, mà nghĩa lại khiêm tốn lắm: ghi chép nhỏ về những điều mắt thấy tai nghe. Rồi khi đã ngoài năm mươi lăm, ông vẫn còn ngồi chú giải sách. Thời xưa, tuổi ấy đã là ông lão rồi đó bạn.
Tính ra, người đời sau đếm được chừng bốn mươi bộ sách gắn với tên ông, có bộ dày tới mấy chục quyển. Có nhà nghiên cứu nói ông là một trong những người đọc nhiều và viết nhiều nhất suốt cả nghìn năm học chữ Hán của nước mình. Mình nghe mà thấy vừa phục, vừa thương. Thương cái lưng còng bên ngọn đèn dầu, thương đôi mắt mỏi mà tay vẫn chép.
Các tài liệu kỷ niệm ông hay nhắc tới một ý, mà người đời sau gắn với tên ông: đọc sách một thước không bằng làm được một tấc. Lại có ý nữa: đọc được một chữ thì đem dùng một chữ. Mình chưa tìm được nguyên văn câu ấy trong sách của ông, nên chỉ xin kể là ý được người sau truyền lại. Nhưng nhìn cả đời ông thì thấy đúng là như vậy. Ông học để hiểu, hiểu để làm, làm cho có ích.
Năm một nghìn bảy trăm tám mươi bốn, ông lâm bệnh nặng, xin về quê mẹ ở Duy Tiên, đất Hà Nam xưa, để dưỡng bệnh. Chẳng bao lâu thì ông mất, ngoài năm mươi bảy tuổi. Hơn hai trăm năm sau, đúng dịp ba trăm năm ngày sinh của ông, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc đã thông qua nghị quyết vinh danh ông. Còn ở nước mình, biết bao ngôi trường mang tên ông, để học trò mỗi sáng đi ngang cổng lại nhớ tới một người suốt đời ham học.
Giờ mình nói chuyện của bạn với mình nghe. Nhiều người lớn tuổi hay nói: già rồi, học chi nữa. Mình hiểu. Mắt đã kém, trí nhớ không còn như xưa, con cháu thì bận. Nhưng bạn thử nghĩ coi, ông Lê Quý Đôn ngoài năm mươi vẫn còn ngồi viết Kiến văn tiểu lục. Ông đâu có viết để thi cử gì nữa. Ông viết vì còn tò mò, vì thấy cuộc đời còn bao nhiêu điều đáng biết.
Học ở tuổi mình đâu cần sách dày. Học cách gọi điện có hình để thấy mặt đứa cháu ở xa. Học một món canh mới cho bữa cơm chiều. Học vài động tác tập cho cái lưng đỡ mỏi. Đọc một bài về sức khỏe, rồi làm theo đúng một điều thôi, như đi bộ mỗi sáng, như bớt chút muối. Đọc một chữ, dùng một chữ, vậy là đủ.
Còn một chuyện nữa mình muốn rủ bạn làm. Mỗi nhà mình đều có một cuốn kiến văn tiểu lục chưa ai viết. Đó là chuyện ông bà ngày xưa, chuyện cái làng cũ, chuyện những năm tháng cơ cực mà cả nhà đã vượt qua. Bạn thử lấy một cuốn sổ nhỏ, mỗi tối ghi vài dòng. Mai mốt con cháu đọc, tụi nhỏ sẽ biết mình từ đâu mà ra.
Việc học, nói cho cùng, không phải để hơn ai. Nó giữ cho đầu óc mình còn sáng, giữ cho lòng mình còn mở, để mỗi ngày già đi mà không cũ đi. Ông Lê Quý Đôn đã sống như vậy cho tới tận cuối đời. Mình nghĩ bạn với mình cũng làm được, mỗi ngày một chút thôi.
Tình Ca. Ở đây có bình an.