Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Audrey Hepburn - Nửa sau cuộc đời là để trả lại yêu thương
Năm một nghìn chín trăm tám mươi tám, ở thành phố Mekelle, miền bắc nước Ethiopia, có một trại mồ côi. Trong đó có một người phụ nữ gần sáu mươi tuổi, dáng người mảnh khảnh, đứng lặng trước năm trăm đứa trẻ đang đói. Hạn hán kéo dài nhiều năm, ruộng đồng khô nứt. Bà nói, đại ý, cảnh ấy khủng khiếp quá, hình ảnh ấy quá sức chịu đựng của tôi. Rồi bà làm một việc rất cụ thể: xin tổ chức của mình gửi lương thực đến ngay.
Trở về, suốt mấy tuần liền, có ngày bà nhận tới mười lăm cuộc phỏng vấn, chỉ để kể cho thế giới nghe về những đứa trẻ ấy. Người phụ nữ đó từng là một trong những ngôi sao điện ảnh được yêu mến nhất thế giới. Tên bà là Audrey Hepburn.
Chào bạn,
Nhiều người trong chúng ta nhớ tới Audrey Hepburn qua những tấm ảnh đen trắng, đôi mắt to, mái tóc ngắn, nụ cười rất hiền. Nhưng hôm nay mình không kể về những bộ phim của bà. Mình muốn kể về nửa sau cuộc đời bà, cái quãng mà ánh đèn sân khấu đã tắt, và bà tự thắp lên một thứ ánh sáng khác.
Audrey Hepburn sinh ngày bốn tháng năm năm một nghìn chín trăm hai mươi chín ở thủ đô Brussels của nước Bỉ. Cha bà là một người Anh làm nghề ngân hàng, mẹ là một nữ nam tước người Hà Lan. Tuổi thơ bà trải qua những năm thiếu đói ở Hà Lan, sức khỏe yếu đi vì thiếu ăn, và những di chứng ấy theo bà suốt đời.
Ngay sau những năm khó khăn đó, bà cùng hàng triệu người khác được nhận lương thực, quần áo và thuốc men cứu trợ của Liên Hợp Quốc. Cô bé gầy gò ấy không bao giờ quên những thùng hàng cứu trợ ngày đó. Về sau bà nói, đại ý: tôi có thể làm chứng cho những gì Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc mang lại cho trẻ em. Bởi chính tôi là một trong những đứa trẻ được nhận lương thực và thuốc men ngay sau những năm tháng ấy.
Hồi nhỏ, bà mê múa ba lê. Lớn lên, cô gái mảnh mai ấy bước vào điện ảnh, và chẳng bao lâu trở thành một ngôi sao nổi tiếng khắp thế giới, được nhớ tới với vẻ duyên dáng, thanh lịch mà rất gần gũi. Ngay từ những năm năm mươi, khi đang ở đỉnh cao, bà đã nhận lời nói chuyện trên đài phát thanh để kêu gọi giúp đỡ trẻ em.
Rồi đến cuối những năm sáu mươi, bà làm một việc mà nhiều người ngạc nhiên. Bà gần như rời xa màn bạc, để về sống yên bình, lo cho gia đình và con cái. Ánh hào quang không giữ được bà. Mình đọc tới đây thấy quý. Có những người cả đời chạy theo tiếng vỗ tay, còn bà thì tự chọn bước xuống.
Năm một nghìn chín trăm tám mươi tám, khi đã gần sáu mươi tuổi, bà nhận lời làm Đại sứ thiện chí của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc. Nhiều người nghĩ một ngôi sao nhận chức danh ấy chỉ để chụp vài tấm ảnh. Bà thì khác. Chuyến đi đầu tiên của bà là đến Ethiopia, nơi đang đói kém, và từ đó bà không dừng lại nữa.
Trong mấy năm ngắn ngủi, bà đến hơn hai mươi quốc gia. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, bà đi cùng các đợt uống thuốc phòng bệnh bại liệt cho trẻ. Ở Ecuador, bà thăm những đứa trẻ sống ngoài đường phố. Ở Guatemala và Honduras, bà đến những nơi đang đưa nước sạch về làng. Ở Bangladesh, bà ghé các trường học nghèo. Ở Sudan, bà vào thăm những trại cho trẻ em phải rời bỏ nhà cửa.
Và bà đã đến Việt Nam. Bà đi thăm các chương trình dinh dưỡng cho trẻ em. Có một tấm ảnh còn lưu lại, chụp bà đang phát vở cho các em nhỏ người Dao ở vùng núi tỉnh Hoàng Liên Sơn ngày ấy. Mình nhìn tấm ảnh mà thấy thương. Một bà cụ ngoại quốc tóc đã điểm bạc, lặn lội lên tận vùng cao xứ mình, ngồi xuống ngang tầm mắt với mấy đứa trẻ, trao cho các em mấy cuốn vở.
Bà không đi để được khen. Bà đi để nhìn tận mắt, rồi trở về kể lại cho những người có thể giúp. Bà nói chuyện trước các nhà lập pháp, dự các hội nghị lớn về trẻ em, hát, đọc thơ ở các buổi hòa nhạc gây quỹ. Năm một nghìn chín trăm tám mươi chín, trong ngày thế giới thông qua bản công ước về quyền trẻ em, bà đứng lên phát biểu. Bà nói rằng trẻ em, trong mọi hoàn cảnh, phải là những người đầu tiên được bảo vệ và cứu giúp khi có thiên tai, hoạn nạn.
Năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, bà đã mang bệnh ung thư. Vậy mà bà vẫn đi Somalia, vẫn bay qua Kenya, qua Anh, qua Pháp, qua Mỹ để tiếp tục công việc. Cuối năm ấy, bà được trao Huân chương Tự do của Tổng thống Mỹ vì những gì đã làm cho trẻ em.
Ngày hai mươi tháng một năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, bà ra đi tại nhà riêng ở Thụy Sĩ, hưởng dương sáu mươi ba tuổi. Sau khi bà mất, Viện Hàn lâm điện ảnh Mỹ trao cho bà giải thưởng nhân đạo mang tên Jean Hersholt. Bà nói bà mãi mang một lòng biết ơn và tin tưởng lâu dài với những gì tổ chức ấy đã làm.
Bạn ơi, mình nghĩ nhiều về bà. Cô bé từng chờ thùng hàng cứu trợ, đến gần sáu mươi tuổi lại thành người mang thùng hàng cứu trợ đến cho những đứa trẻ khác. Món nợ ân tình nhận được thuở nhỏ, bà trả lại bằng chính những năm cuối đời mình. Ông bà mình gọi đó là uống nước nhớ nguồn.
Tuổi chúng ta bây giờ, có khi mình nghĩ mình đã qua thời làm được việc lớn. Sức yếu, tiền không nhiều, ánh đèn cũng đã tắt. Nhưng bà Audrey bắt đầu công việc ý nghĩa nhất đời mình đúng vào cái tuổi người ta nghĩ là nên nghỉ ngơi. Bà cho mình thấy, nửa sau cuộc đời không phải là phần thừa. Nó có thể là phần đẹp nhất.
Mình không cần đi khắp hai mươi nước. Mình có thể đan một chiếc áo len cho đứa cháu nhà nghèo trong xóm, góp vài trăm nghìn mua vở cho trẻ vùng cao. Hay kèm một đứa nhỏ học chữ, hoặc đơn giản là gọi điện hỏi han một người bạn già đang ốm. Nhớ lại ai đã từng giúp mình, rồi lặng lẽ giúp lại một người khác. Vậy là đủ.
Lần tới, khi bạn thấy những ngày tuổi già trôi qua chậm và trống trải, hãy nhớ tới người phụ nữ mảnh khảnh ngồi xuống bên mấy đứa trẻ người Dao, đôi tay gầy trao từng cuốn vở. Nửa sau cuộc đời, nếu mình muốn, vẫn có thể là quãng mình trả lại yêu thương cho đời.
Tình Ca. Ở đây có bình an.