Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Lương Thế Vinh - Học mà chơi, chơi mà học, cái khôn để giúp người
Có một buổi chiều ở bãi chăn trâu, lũ trẻ trong làng đang đá một quả bưởi thay cho quả bóng. Quả bưởi lăn tròn, rơi tõm xuống một cái hố hẹp mà sâu. Đứa nào thò tay xuống cũng không với tới. Cả bọn đứng nhìn nhau tiu nghỉu. Có một cậu bé ngồi nghĩ một lát, rồi bảo các bạn chạy đi lấy gàu, múc nước ngoài ao đổ xuống hố. Nước dâng lên, quả bưởi nổi dần lên miệng hố. Lũ trẻ reo ầm, tưởng cậu bạn có phép thần.
Chẳng có phép thần nào cả. Trước đó, cậu bé từng làm rơi quả bưởi xuống ao, thấy nó nổi lềnh bềnh, rồi lấy cành tre khều vào. Cậu nhớ, và cậu nghĩ. Cậu bé ấy về sau đỗ Trạng nguyên, được dân gian gọi bằng một cái tên rất thân thương: Trạng Lường. Ông là Lương Thế Vinh.
Chào bạn,
Câu chuyện quả bưởi, mình nghĩ nhiều người trong chúng ta đã nghe từ hồi còn đi học. Nó được kể đi kể lại qua mấy trăm năm, như một giai thoại. Nhưng hôm nay mình muốn ngồi kể lại cho bạn nghe trọn vẹn hơn về con người đứng sau câu chuyện ấy, vì càng lớn tuổi, mình càng thấy thấm.
Lương Thế Vinh sinh năm một nghìn bốn trăm bốn mươi mốt, ở làng Cao Hương, huyện Thiên Bản xưa. Làng ấy nay là thôn Cao Phương, thuộc vùng đất Vụ Bản của Nam Định cũ. Ông có tên chữ là Cảnh Nghị, tên hiệu là Thụy Hiên. Ông lớn lên giữa đồng ruộng, quen với con trâu, cánh diều, cái ao làng như bao đứa trẻ quê khác.
Nhưng cậu bé này có một cách chơi lạ. Thả diều thì cậu tính xem dây dài bao nhiêu, diều lên cao bao nhiêu. Đi câu thì cậu ước lượng ao sâu mấy, sông rộng mấy, rồi tìm cách đo lại cho biết mình đoán đúng hay sai. Cậu còn đo cái bóng của một cây gậy, đem so với bóng cái cây, để biết cây cao bao nhiêu mà không cần trèo. Người ta tóm lại cách học của cậu bằng một câu: học mà chơi, chơi mà học.
Cùng thời có một người bạn học tên là Quách Đình Bảo, ngày đêm đèn sách miệt mài. Người ta kể rằng có lần Bảo tìm đến nhà Vinh, thấy bạn chẳng ngồi đọc sách mà đang ung dung thả diều ngoài đồng. Vậy mà hỏi gì Vinh cũng trả lời được, khiến Bảo phải phục. Về sau hai người cùng đỗ một khoa thi.
Năm một nghìn bốn trăm sáu mươi ba, dưới triều vua Lê Thánh Tông, khi mới hơn hai mươi tuổi, Lương Thế Vinh đỗ đầu khoa thi, thành Trạng nguyên. Người bạn Quách Đình Bảo đỗ Thám hoa. Nhà vua còn làm thơ khen ba vị đỗ cao nhất khoa ấy, có câu đại ý rằng tên của họ thì cả thiên hạ đều biết.
Có một chi tiết mình thích nhất. Ngày vinh quy bái tổ, áo mũ võng lọng rình rang, ông lại bảo đoàn đi vòng qua bãi chăn trâu ngày xưa. Để làm gì? Để được gặp lại lũ bạn chăn trâu thân thiết của mình. Đỗ Trạng nguyên rồi, mà điều đầu tiên ông muốn là về chào những đứa bạn nghèo đã cùng mình thả diều, đá bưởi.
Làm quan rồi, ông vẫn không đổi tính. Ông làm việc ở Viện Hàn lâm, dạy toán cho người học, được giao trông coi việc xây đắp đê điều, đường sá, cung điện. Trong hội thơ của nhà vua, ông giữ vai người chuyên đọc và sửa thơ cho các thành viên. Ông nổi tiếng là người thẳng thắn, nhưng khéo léo, hay đùa và ứng biến rất nhanh.
Cái khôn của ông là cái khôn gần dân. Ông soạn cuốn sách toán mang tên Đại thành toán pháp, dạy cách tính toán, đo ruộng, chia đất, cân đong, những việc mà người nông dân, người buôn bán ngày nào cũng cần. Cuốn sách ấy được dùng trong việc học và thi cử suốt mấy trăm năm. Dân gian còn truyền rằng ông là người làm ra chiếc bàn tính gẩy cho người Việt, ban đầu bằng những viên đất có lỗ xâu vào thanh tre.
Về quê, ông dạy dân làng cách làm thuốc nam, thuốc bắc, khuyên mở chợ cho bà con có chỗ buôn bán. Người ta còn kể có lần ông gặp một ông quan huyện hống hách hà hiếp dân. Ông bèn hất ông quan ấy xuống ruộng bùn một phen, để nhắc ông ta nhớ rằng làm quan thì phải thương dân.
Có hai giai thoại được kể nhiều nhất. Một lần sứ thần phương Bắc sang, đố bên mình cân một con voi. Ông cho dắt voi xuống thuyền, đánh dấu chỗ mực nước, rồi dắt voi lên, chất đá xuống thuyền cho tới đúng vạch ấy, đem cân từng hòn đá. Lần khác, sứ thần đố đo bề dày một tờ giấy. Ông đo cả cuốn sách, rồi chia cho số tờ. Tương truyền, sứ thần phải khen rằng nước Nam quả có nhiều người tài.
Ông còn yêu nghệ thuật chèo của làng quê. Cuốn Hý phường phả lục được cho là của ông, ghi lại cách diễn, cách đánh trống, cách múa hát của phường chèo. Các nhà sử học xem đó có thể là công trình lý luận đầu tiên về nghệ thuật sân khấu truyền thống của người Việt. Một ông Trạng giỏi toán mà cũng mê tiếng trống chèo, nghe thật dễ thương.
Ông mất năm năm mươi lăm tuổi. Đền thờ ông được dựng ngay trên nền nhà cũ ở quê. Gần sáu trăm năm sau, khắp nơi trên đất nước có rất nhiều trường học mang tên Lương Thế Vinh.
Bạn ơi, mình rút ra từ ông ba điều nhỏ. Điều thứ nhất, sự tò mò không có tuổi. Cậu bé đo bóng cây ngày xưa dạy mình rằng học không phải chỉ ở trong sách. Tuổi mình bây giờ, học cách gọi điện có hình cho con cháu ở xa, học một món ăn mới, học trồng một chậu rau, cũng là học mà chơi, chơi mà học.
Điều thứ hai, cái khôn thật là cái khôn giúp được người bên cạnh. Ông không dùng chữ nghĩa để làm khó ai. Ông dùng nó để dân đo ruộng cho đúng, cân hàng cho công bằng. Người lớn tuổi mình cũng vậy, một lời khuyên đúng lúc, một cách làm hay chỉ lại cho hàng xóm, là cái khôn đáng quý nhất.
Điều thứ ba, đi xa đến đâu cũng đừng quên bãi chăn trâu. Đỗ Trạng rồi ông vẫn vòng về thăm lũ bạn nghèo. Đời mình có lúc lên lúc xuống, nhưng những người bạn cũ, những người đã cùng mình đi qua ngày khó, mình hãy còn nhớ, còn ghé thăm, còn hỏi han.
Lần tới, nếu bạn gặp một chuyện khó tưởng không gỡ được, hãy nhớ tới quả bưởi dưới hố sâu. Đôi khi không cần với tay xuống cho mỏi, chỉ cần bình tĩnh nghĩ một chút, rồi đổ thêm chút nước, chuyện sẽ tự nổi lên.
Tình Ca. Ở đây có bình an.