Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại

Tuệ Tĩnh - Thuốc quý nhất nằm ngay trong vườn nhà mình

Ở một vùng đất xa lạ phương Bắc, có một ông thầy thuốc già biết mình sắp ra đi. Ông không xin vàng bạc, không xin danh hiệu. Ông chỉ dặn người ta khắc lên bia mộ một câu, đại ý rằng: ai về nước Nam, cho tôi về với. Hơn ba trăm năm sau, có một vị quan đi sứ, tình cờ dừng chân trước ngôi mộ ấy. Đọc tấm bia, ông sững người. Người nằm dưới mộ là bậc tiền bối cùng làng với chính ông.

Chào bạn,

Ông thầy thuốc ấy là Tuệ Tĩnh, người mà dân mình tôn là ông tổ của thuốc nam. Hôm nay mình muốn kể bạn nghe về ông. Vì mình nghĩ, đời ông để lại một bài học rất hợp với những người có tuổi như chúng ta. Đó là: nhiều khi điều quý nhất cho sức khỏe và cho lòng mình lại nằm ngay bên cạnh, trong mảnh vườn nhà, trong nếp sống mỗi ngày.

Tuệ Tĩnh tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, quê ở làng Nghĩa Phú, huyện Cẩm Giàng, đất Hải Dương. Nhiều sách ghi ông sinh năm một nghìn ba trăm ba mươi, dưới đời nhà Trần. Cũng phải nói thật với bạn, tư liệu chắc chắn về đời ông rất ít. Các nhà nghiên cứu đến nay vẫn chưa thống nhất năm sinh năm mất, có ý kiến còn cho rằng ông sống muộn hơn nhiều. Mình kể theo cách phần đông sách vở và người dân quê ông vẫn kể.

Cuộc đời ông bắt đầu bằng mất mát. Năm sáu tuổi, ông đã mồ côi. Các nhà sư ở chùa Hải Triều đưa cậu bé về nuôi, cho ăn học. Người ta kể cậu sáng dạ lắm, nên được nhà chùa đặt cho cái tên Tuệ Tĩnh, nghĩa là trí sáng mà lòng lặng. Một đứa trẻ không còn cha mẹ, lớn lên nhờ bát cơm và con chữ của người khác. Có lẽ vì vậy mà suốt đời ông cứ muốn trả ơn đời bằng cách chăm lo cho người nghèo.

Năm hai mươi hai tuổi, ông đi thi và đỗ đạt. Sách ghi khác nhau về học vị, có nơi nói Thái học sinh, có nơi nói Hoàng giáp. Nhưng điều mọi nguồn đều giống nhau là ông không ra làm quan. Con đường áo mũ đã mở trước mặt, ông lại quay về chùa, đi tu và học nghề thuốc. Ông chọn ở gần người bệnh hơn là ở gần chốn sang trọng. Mình đọc tới đây cứ nghĩ mãi. Ngày ấy, đỗ đạt rồi ra làm quan là niềm mơ ước của cả một làng. Vậy mà ông nhẹ nhàng đặt nó xuống, như đặt một gánh nặng không phải của mình.

Rồi ông đi khắp các làng quê. Sách kể ông dựng nhiều ngôi chùa, và mỗi chùa vừa là nơi tu, vừa là nơi chữa bệnh. Quanh chùa, ông cho trồng vườn thuốc. Ông chữa bệnh không lấy tiền, lại dạy cho các nhà sư biết cách hái thuốc, bốc thuốc, để họ chữa tiếp cho dân. Một người thầy thuốc, mà lại muốn làm sao cho thật nhiều người khác cũng biết chữa bệnh.

Điều ông nói nhiều nhất là một câu rất ngắn: Nam dược trị Nam nhân. Nghĩa là thuốc nước Nam chữa cho người nước Nam. Hồi đó thuốc quý thường phải mua từ phương xa, đắt đỏ, người nghèo không với tới. Ông thì tin rằng cây cỏ mọc trên đất mình, cùng khí trời, cùng thủy thổ với người mình, sẽ hợp với người mình. Cây tía tô, lá kinh giới, củ gừng, ngọn rau má, những thứ mọc ngay bờ ao góc vườn, trong tay ông thành vị thuốc.

Ông còn viết sách để cái biết của mình không mất theo mình. Cuốn Nam dược thần hiệu ghi lại hàng trăm vị thuốc nam và rất nhiều bài thuốc. Cuốn Hồng Nghĩa giác tư y thư thì phần lớn viết bằng thơ chữ Nôm, chữ của người Việt mình thời ấy. Ông viết thành thơ để người bình dân dễ đọc, dễ thuộc, nhớ mà dùng. Mình thấy cái tâm của ông nằm ngay trong cách chọn chữ ấy.

Người đời sau còn truyền lại một lời dạy về giữ gìn sức khỏe gắn với tên ông: bế tinh, dưỡng khí, tồn thần. Nói nôm na là giữ gìn sức lực đừng phung phí, thở cho sâu và sống nơi khí trời trong lành, giữ cho tâm trí được yên. Ông không bảo người ta đi tìm thuốc tiên. Ông bảo người ta sống cho điều độ. Ăn vừa đủ, làm vừa sức, giận thì nguôi, lo thì bớt. Nghe thì giản dị, mà mấy ai trong chúng ta làm được trọn vẹn đâu bạn.

Khoảng năm ông năm mươi lăm tuổi, tiếng tăm của ông đã vang sang tận phương Bắc. Triều đình nhà Trần phải đưa ông sang nhà Minh. Sách kể ông chữa khỏi bệnh cho một bà hoàng hậu bên ấy, được phong danh hiệu, nhưng rồi bị giữ lại ở đất Kim Lăng, không bao giờ được trở về. Ông mất ở nơi đất khách, không ai biết rõ năm nào.

Trước khi mất, ông nhờ khắc lên bia mộ lời nhắn mà mình kể lúc đầu: ai về nước Nam cho tôi về với. Mãi đến khoảng năm một nghìn sáu trăm chín mươi, ông tiến sĩ Nguyễn Danh Nho, người cùng làng, đi sứ ngang qua và nhận ra ngôi mộ. Ông chép lại lời bia, cho khắc một tấm bia đá mang về quê. Ngày nay ở Cẩm Giàng vẫn còn đền thờ Tuệ Tĩnh, người quanh vùng quen gọi là đền Bia.

Bạn ơi, mình ngồi nghĩ về câu nói của ông, thuốc nước Nam chữa cho người nước Nam, và thấy nó rộng hơn chuyện thuốc men. Tuổi càng cao, mình càng dễ bị cuốn theo những lời quảng cáo: thần dược từ nước này, thực phẩm thần kỳ từ nước kia, giá thật đắt. Trong khi đó, những điều giữ mình khỏe lâu lại rất gần. Một bữa cơm quê nhiều rau, ít mỡ. Một giấc ngủ đủ. Mỗi sáng đi bộ một vòng, hít thở khí trời. Một tâm trí bớt lo âu.

Mình không nói mình nên tự chữa mọi bệnh bằng lá vườn. Bệnh nặng thì phải đi khám, phải nghe bác sĩ, đó cũng là lẽ phải. Ông Tuệ Tĩnh, một người thầy thuốc cẩn thận, chắc chắn cũng nghĩ vậy. Điều mình học ở ông là cái nhìn: đừng coi rẻ những gì gần mình chỉ vì nó quen thuộc. Bữa cơm nhà, cây rau trong vườn, nếp sống điều độ, đó là những vị thuốc mà mình có sẵn mỗi ngày.

Và nghĩ xa hơn một chút, con người gần mình cũng vậy. Người vợ, người chồng đã cùng mình đi mấy chục năm. Đứa con hay ghé thăm. Người hàng xóm cho mình mớ rau. Mình hay mong điều gì to lớn ở đâu xa, mà quên rằng sự bình an thường mọc ngay trong vườn nhà mình.

Một ông thầy thuốc mồ côi, cả đời trồng thuốc chữa cho người nghèo, đến cuối đời chỉ mong được về với quê hương. Mình nghĩ, ông đã hiểu điều quý nhất ở đâu. Mong bạn hôm nay cũng nhìn lại mảnh vườn của mình, cả mảnh vườn ngoài sân lẫn mảnh vườn trong lòng, để thấy mình đang có biết bao nhiêu vị thuốc.

Tình Ca. Ở đây có bình an.