Tình Ca kể chuyện · Bài học từ những người vĩ đại
Chu Văn An - Người thầy dạy con cháu bằng chính nhân cách của mình
Hãy hình dung một buổi sáng trên núi Phượng Hoàng, đất Chí Linh, cách nay gần bảy trăm năm. Có hai vị quan lớn trong triều tìm về thăm một ông thầy già, sống trong căn nhà nhỏ giữa rừng núi. Ở kinh thành, bao người cúi đầu trước họ. Vậy mà đứng trước thầy, hai ông vẫn khép nép giữ lễ, như hồi còn là cậu học trò nhỏ. Và nếu có điều gì chưa phải, ông thầy ấy vẫn nghiêm giọng nhắc nhở, chẳng nể chức tước của ai.
Chào bạn,
Ông thầy ấy là Chu Văn An. Hai vị quan kia là Phạm Sư Mạnh và Lê Quát, những học trò về sau làm đến chức rất cao. Hôm nay mình muốn kể bạn nghe về ông, người mà dân mình vẫn gọi là người thầy của những người thầy. Và mình muốn rút ra từ đời ông một điều rất gần với chúng ta: con cháu học ở mình không phải ở lời mình dạy, mà ở cách mình sống.
Chu Văn An sinh năm một nghìn hai trăm chín mươi hai, ở làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm. Nay là vùng Thanh Liệt, Thanh Trì, ngay phía nam Hà Nội. Ông còn có tên là Chu An, tên chữ là Linh Triệt. Sách vở để lại về tuổi trẻ của ông không nhiều, và có chỗ ghi khác nhau. Có sách nói ông đỗ Thái học sinh mà không ra làm quan, có sách lại nói ông chẳng đỗ đạt gì. Mình thấy điều đó cũng hay, vì người ta nhớ ông đâu phải nhờ tấm bằng.
Điều chắc chắn là ông mở một trường học nhỏ ở làng Huỳnh Cung, bên kia bờ sông Tô Lịch. Học trò tìm đến rất đông, sách kể có lúc lên tới hàng nghìn người. Ông dạy con nhà giàu cũng như con nhà nghèo, không phân biệt. Ông nghiêm với những ai lười biếng, ham chơi. Có người đi học để mong làm quan, nhưng ông dạy trước hết là để làm người: lòng phải ngay, việc phải theo lẽ phải.
Ở vùng Thanh Trì, người ta còn kể một truyện rất đẹp. Rằng có một cậu học trò lạ, ngày nào cũng đến nghe giảng, chiều lại biến mất bên đầm nước. Năm ấy trời hạn hán, ruộng nứt nẻ, thầy nhờ cậu làm mưa cứu dân. Cậu vâng lời, mưa đổ xuống, nhưng sau đó người ta thấy xác một con thuồng luồng lớn. Dân làng lập đền thờ, và cái đầm nơi thầy rửa nghiên mực về sau gọi là Đầm Mực. Đó là truyền thuyết, mình kể lại như người xưa kể. Nhưng nó cho thấy dân thương và kính ông đến nhường nào.
Tiếng thơm của trường Huỳnh Cung bay về kinh thành. Vua Trần Minh Tông mời ông làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám, tức là người coi việc dạy dỗ ở ngôi trường lớn nhất nước lúc bấy giờ. Ông được giao dạy cả thái tử, người về sau lên ngôi là vua Trần Hiến Tông. Ông soạn sách giảng giải các kinh sách của nhà nho, cuốn Tứ thư thuyết ước, tiếc là nay đã thất lạc.
Về sau, dưới đời vua Trần Dụ Tông, ông dâng một tờ sớ thẳng thắn can vua, không được nghe theo, ông lặng lẽ treo mũ áo ở cửa Huyền Vũ mà về. Mình chỉ nhắc chừng đó thôi. Điều mình muốn dừng lại là cách ông ra đi. Ông không oán trách, không kể công, không cố bám lấy một chỗ ngồi. Ông chỉ hiểu rằng có lúc người ta phải chọn giữa cái ghế và tấm lòng ngay thẳng của mình.
Ông về núi Phượng Hoàng, làng Kiệt Đặc, đất Chí Linh, dựng nhà giữa hai ngọn núi Kỳ Lân và Phượng Hoàng. Ông tự đặt hiệu là Tiều Ẩn, nghĩa là người kiếm củi ở ẩn. Bạn nghe cái tên ấy có thấy hiền không? Một người từng dạy thái tử, nay tự gọi mình là ông tiều. Ở đó ông vẫn dạy học, viết sách, làm thơ. Ông còn trồng cây thuốc, chữa bệnh cho bà con quanh vùng.
Học trò cũ của ông nhiều người đã thành đạt. Nhưng khi về thăm thầy, họ vẫn kính cẩn giữ lễ, và thầy vẫn nghiêm khắc dạy bảo khi họ có điều sai. Mình nghĩ, một người thầy được học trò kính như thế khi họ đã đứng trên cao, thì cái uy ấy không đến từ roi vọt. Nó đến từ chỗ chính ông chưa bao giờ sống khác với điều ông dạy.
Triều đình nhiều lần mời ông trở lại, ông đều từ chối. Sách kể rằng khi vua Trần Nghệ Tông lên ngôi, ông về kinh chúc mừng, xong việc lại trở về núi, nhất định không nhận chức gì. Ông đến vì lễ, rồi đi vì lòng mình. Chừng ấy thôi mà người đời sau nhắc mãi.
Thơ của ông nay chỉ còn hơn mười bài chữ Hán, được người đời sau chép lại trong các tập thơ xưa. Nhà bác học Phan Huy Chú khen thơ ông trong sáng, nhàn nhã. Ông còn khen thầy Chu học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, và nói làng nho nước ta trước sau chỉ có một mình ông. Sử gia Ngô Sĩ Liên thì nhận xét, đại ý rằng ông ra hay ở đều theo lẽ phải.
Năm một nghìn ba trăm bảy mươi, ông mất ở tuổi gần tám mươi. Ông được đưa vào thờ ở Văn Miếu, bên cạnh các bậc tiên hiền. Ở quê ông, dân làng thờ ông làm thành hoàng. Năm hai nghìn không trăm hai mươi, nhân sáu trăm năm mươi năm ngày ông mất, tổ chức văn hóa giáo dục của Liên Hợp Quốc cũng cùng Việt Nam tưởng niệm ông. Một ông thầy làng, gần bảy thế kỷ sau, vẫn được thế giới nhắc tên.
Bạn ơi, mình kể chuyện ông không phải để nói về sách vở hay thi cử. Mình kể vì mình nghĩ tới chính chúng ta, những người đã làm cha, làm mẹ, làm ông bà. Có lúc mình hay lo con cháu không nghe lời. Mình nói hoài, nhắc hoài, mà chúng vẫn vậy. Nhưng nhìn lại đời thầy Chu, mình thấy ông dạy nhiều nhất không phải bằng lời. Ông dạy bằng một chức quan ông từ chối, bằng cái tên ông tiều, bằng mảnh vườn thuốc chữa bệnh cho làng.
Con cháu mình cũng vậy. Chúng không nhớ hết mình đã nói gì. Nhưng chúng nhớ rất kỹ mình đã sống ra sao. Nhớ lúc mình giữ lời hứa dù phải chịu thiệt. Nhớ lúc mình trả lại món tiền không phải của mình. Nhớ cách mình đối xử với ông bà khi ông bà đã già yếu. Đó là bài học không cần bảng đen, mà lại thấm lâu nhất.
Còn một điều nữa, hợp với tuổi của chúng ta. Thầy Chu biết lúc nào nên lui. Ông lui về không phải để buồn, mà để sống cho trọn phần đời còn lại: dạy học, làm thơ, trồng cây thuốc. Tuổi già của mình cũng thế. Có những việc mình phải buông, có những chỗ đứng mình nên nhường cho lớp sau. Nhưng buông chức phận đâu có nghĩa là buông nhân cách của mình.
Nếu hôm nay bạn đang ngồi trong một căn nhà nhỏ, xa những ồn ào ngày trước, thì mình mong bạn nhớ tới ông tiều trên núi Phượng Hoàng. Chỉ cần mình sống ngay thẳng, hiền hậu, có ích cho người quanh mình, thì mình vẫn đang là một người thầy. Người thầy lặng lẽ nhất, mà cũng bền lâu nhất, của con cháu mình.
Tình Ca. Ở đây có bình an.