Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Sách Nói Tình Ca

Người Lạ Trên Mái Nhà Kể Lại Giấc Mơ Tôi Chưa Kể Với Ai

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Đời Sống Và Lời Dạy Của Các Chân Sư Viễn Đông" của Baird T. Spalding. Chương trước, sau một buổi tối đầy tiếng nhạc, các Chân sư chia tay đoàn và hẹn gặp lại ở nơi trú đông. Mời bạn nghe chương hai mươi hai.

Chương hai mươi hai.

Sáng hôm sau, chúng tôi rời làng, chỉ có Emil và Jast đi cùng. Đích đến là ngôi làng chúng tôi đã chọn làm nơi trú đông. Mùa đông ở vùng này khá khắc nghiệt, nên chúng tôi muốn chắc chắn có được chỗ ở đàng hoàng trước khi đợt lạnh kéo tới. Nhưng chuyện này cũng như bao chuyện khác, nỗi lo của chúng tôi hóa ra không có cơ sở. Vì khi tới nơi, chúng tôi thấy chỗ ở ấm cúng đã sẵn sàng chờ mình.

Con đường mòn từ làng băng qua cao nguyên, rồi đi ngược lên một hẻm núi dài, quanh co, tới đỉnh đèo. Ở đó là ngôi làng có tường lũy thứ hai, canh giữ cái cao nguyên chúng tôi vừa băng qua. Vách hẻm núi dựng đứng, cao từ hai trăm tới năm trăm bộ, tức chừng sáu mươi tới một trăm năm mươi mét, nối liền với những dãy núi vươn cao thêm hai nghìn bộ, chừng sáu trăm mét, phía trên chỗ con đường vượt đèo. Trên đỉnh đèo, có hai sống đá lớn nhô lên, ở hai bên một khoảng đất bằng rộng chừng năm mẫu Anh, tức khoảng hai héc-ta. Hai sống đá cách nhau chừng sáu trăm bộ, gần hai trăm mét. Người ta đã xây một bức tường cao bốn mươi bộ, chừng mười hai mét, chắn ngang khoảng trống đó, nối liền hai sống đá, thành một hàng rào chắn rất hữu hiệu. Chân tường dày sáu mươi bộ, chừng mười tám mét, còn mặt trên dày ba mươi bộ, chừng chín mét. Tường được xây sao cho mặt trên thành một lối chạy, trên đó có thể lăn những tảng đá lớn, rồi thả rơi xuống đất ở phía ngoài tường. Phía ngoài, mặt đất dốc gắt, nối liền với một sườn dốc đứng, và con đường mòn đi xuống theo sườn dốc đó để sang bên kia đèo.

Dọc theo bức tường, cứ cách một trăm bộ, chừng ba mươi mét, lại có một cái máng trượt, để đá lấy đủ đà, văng qua khỏi chân tường rồi mới chạm đất. Chạm đất rồi, đá sẽ lăn xuống dốc, qua sườn dốc đứng, rồi tiếp tục lăn xuống hẻm núi chừng bốn dặm, khoảng sáu cây số rưỡi, mới dừng, nếu nó không tự vỡ tung vì chính cái đà của nó. Tất cả hợp lại thành một hệ thống phòng thủ rất hiệu quả. Vì suốt bốn dặm đó, không chỗ nào hẻm núi rộng quá năm mươi bộ, chừng mười lăm mét, và lòng hẻm đủ dốc để đá lăn lấy đà rất mạnh. Mỗi bên vách hẻm núi còn có hai chỗ có thể nạy đá cho lăn xuống. Những chỗ này nối với hai đầu bức tường bằng những đường mòn khoét dọc sườn núi. Trên mặt tường có đặt sẵn một số tảng đá, mỗi tảng bề ngang chừng mười hai bộ, gần bốn mét, để dùng khi hữu sự. Người ta kể với chúng tôi rằng chưa lần nào phải dùng tới những tảng đá đó. Vì chỉ có đúng một bộ tộc từng tìm cách vào làng mà không được mời, và bộ tộc ấy gần như bị xóa sổ bởi đá thả xuống từ bốn cái trạm trên vách hẻm núi. Những tảng đá đầu tiên trên đường lăn xuống đã kéo theo những tảng khác, cho tới khi thành một trận lở đá quét xuống thung lũng, cuốn phăng mọi thứ trước mặt. Người ta cũng nói những tảng đá trên mặt tường đã nằm yên ở đó hơn hai nghìn năm, vì suốt thời gian ấy, xứ này không hề có chiến tranh.

Chúng tôi thấy sáu ngôi nhà hợp thành ngôi làng đều được xây lẫn vào trong bức tường, cao ba tầng, mái nhà ngang bằng với mặt trên của tường. Vậy nên muốn lên mặt tường, người ta đi theo cầu thang xuyên qua từng tầng, lên tới mái của mỗi nhà. Ở tầng ba, tường có chừa những ô cửa sổ, nhìn xuống hẻm núi bên dưới. Từ những cửa sổ đó và từ mặt tường, có thể thấy con đường mòn uốn quanh sườn núi, xa tới mấy dặm.

Người ta xếp cho chúng tôi nghỉ đêm ở tầng ba của một trong mấy ngôi nhà đó. Ăn tối sớm xong, chúng tôi lên mái xem mặt trời lặn. Mới lên được một lát, thì có một người đàn ông, trông chừng năm mươi tuổi, đi theo cầu thang lên mái. Jast giới thiệu xong, ông nhập vào câu chuyện. Chẳng mấy chốc chúng tôi biết ông sống ở chính ngôi làng mà đoàn đã chọn làm nơi trú đông, và ông đang trên đường về đó. Chúng tôi tưởng ông cũng đi đường như mình, nên mời ông đi chung với đoàn. Ông cảm ơn, nói rằng ông có thể đi quãng đường đó nhanh hơn chúng tôi nhiều, ông chỉ ghé làng này thăm một người bà con, và tối nay ông sẽ về tới nhà. Rồi câu chuyện chuyển sang ngôi đền mà ba người chúng tôi đã cùng Emil và Jast tới thăm. Người đàn ông nói khẽ: "Đêm đó tôi thấy anh ngồi trên bờ tường ngôi đền." Rồi ông kể lại giấc mơ, hay cái thị kiến đó, y như nó đã tới với tôi, và y như tôi đã ghi lại trong cuốn sách này. Tôi và các bạn tôi đều sửng sốt, vì tôi chưa hề kể chuyện đó với họ. Người này hoàn toàn xa lạ với chúng tôi, vậy mà ông kể lại giấc mơ rõ ràng, sống động y như lúc nó hiện ra với tôi.

Rồi ông nói tiếp: "Anh đã được cho thấy đúng những gì chúng tôi được cho thấy. Con người còn đi ra trong sự hợp nhất, chừng nào họ còn ý thức được điều này, và còn dùng quyền năng, quyền làm chủ của mình một cách đúng đắn. Nhưng ngay khi con người, trong cái tôi phàm trần, nghĩ ra hai quyền năng đối nghịch, thì họ bắt đầu nhìn thấy hai. Họ dùng sai quyền năng ấy, và làm ra sự nhị nguyên. Vì con người có ý chí tự do, nhìn vào cái gì thì làm ra cái đó. Từ đó sinh ra sự khác biệt, sự chia lìa xa cách, và điều đó đã theo con người đi khắp mặt đất. Nhưng một sự đổi thay đang tới. Sự khác biệt đã gần chạm tới giới hạn của nó, và loài người đang nhận ra rằng tất cả đều từ một Nguồn mà ra. Nhận ra điều đó, con người giờ đang xích lại gần nhau hơn, rồi gần nhau hơn nữa. Con người bắt đầu hiểu rằng mỗi người khác là anh em của mình, chứ không phải kẻ thù. Khi con người hiểu trọn điều này, họ sẽ thấy rằng, tất cả đã từ một Nguồn mà ra, thì tất cả cũng phải trở về Nguồn ấy, tức là thật sự trở thành anh em với nhau. Khi đó họ sẽ ở trên thiên đàng, và sẽ nhận ra thiên đàng nghĩa là sự bình an, sự hòa hợp bên trong, do chính con người tạo ra ngay tại đây, trên mặt đất này. Họ sẽ thấy chính mình làm ra thiên đàng hay địa ngục cho mình, tùy theo mình chọn. Thiên đàng này người ta đã hình dung đúng, nhưng lại đặt sai chỗ trên bản đồ. Con người sẽ biết rằng Thượng đế ngự ở bên trong mình. Mà không chỉ ở trong mình, mà còn ở trong mọi thứ quanh mình: mỗi hòn đá, mỗi cái cây, mỗi ngọn cỏ, mỗi bông hoa, mỗi vật được tạo ra. Thượng đế ở ngay trong không khí họ thở, trong nước họ uống, trong đồng tiền họ tiêu. Thượng đế là Chất Liệu của mọi vật. Khi thở, họ thở vào Thượng đế cũng như thở vào không khí. Khi ăn, họ nhận lấy Thượng đế cũng như nhận lấy thức ăn.

"Chúng tôi không muốn lập ra giáo phái hay hệ phái mới nào. Chúng tôi thấy các giáo hội đang có ngày nay là đủ rồi, và họ chính là những trung tâm hợp lẽ nhất để vươn ra, giúp người ta nhận biết Thượng đế, qua Đấng Christ ở trong mọi người. Những ai gắn bó với các giáo hội phải hiểu rằng giáo hội chỉ là hình ảnh tượng trưng cho một điều duy nhất, đó là ý thức Christ trong toàn thể loài người. Nếu họ hiểu điều này, thì sự khác biệt còn nằm ở đâu được, ngoài ý niệm của tâm trí phàm trần, chứ đâu phải ở giáo hội? Vậy thì giáo hội này, hội đoàn này khác giáo hội kia, hội đoàn kia ở chỗ nào? Sự khác biệt mà người ta tưởng là có ngày nay, hẳn phải nằm hoàn toàn trong tâm trí phàm trần của con người. Hãy xem sự khác biệt ấy đã dẫn tới đâu: những cuộc chiến tranh lớn, mối hận thù sâu nặng giữa các quốc gia, các gia đình, thậm chí giữa từng người với nhau. Và tất cả chỉ vì tổ chức giáo hội này hay giáo hội khác cho rằng tín điều, giáo lý của mình hay hơn của người khác. Vậy mà thật ra tất cả đều như nhau, vì tất cả đều dẫn về cùng một chỗ. Không thể nào mỗi giáo hội lại có một thiên đàng riêng. Vì nếu vậy, khi một người đã đi hết con đường của cái giáo hội riêng mình, và sẵn sàng nhận phần thưởng, thì người ấy sẽ phải dành hết phần đời còn lại để lần mò trong cả một mê cung thiên đàng, tìm cho ra đúng cái thiên đàng dành cho mình. Các tổ chức giáo hội và những người gắn bó với họ đang xích lại gần nhau hơn mỗi ngày, và sẽ tới lúc họ hợp lại làm một. Khi tất cả là một, sẽ không cần tới tổ chức nữa.

"Tuy vậy, lỗi không hoàn toàn nằm ở các tổ chức giáo hội. Ít người thức tỉnh để nhận ra đời sống thật sự dành cho mình những gì. Chúng tôi thấy phần đông người ta cứ trôi dạt qua cuộc đời, bất mãn, ngơ ngác, bị đè bẹp, hoặc chẳng biết chắc điều gì. Mỗi người phải học cách nắm lấy đời sống, và bắt đầu biểu lộ, từ trung tâm sự sống của chính mình, bằng hành động có chủ đích, rõ ràng, những món quà mà Thượng đế đã ban cho mình. Mỗi người phải tự mở ra đời sống của mình. Không ai có thể sống thay cho người khác. Không ai biểu lộ đời sống của anh thay anh được, và cũng không ai có thể nói anh phải biểu lộ đời sống của anh ra sao. 'Như Cha có sự sống trong chính mình, thì Ngài cũng ban cho Con được có sự sống trong chính mình.' Một linh hồn hiểu được điều này thì không thể cứ trôi dạt. Vì toàn bộ mục đích của đời sống tỏ ra trong cái đặc ân, cái cơ hội được biểu lộ cái tôi Thượng đế ở bên trong. Con người là, và sẽ mãi là, hình ảnh thiêng liêng, giống như chính Ngài, đó là ý định của Thượng đế dành cho con người. Biểu lộ điều mà Thượng đế đã hình dung cho mình, đó nên là mục đích lớn của đời người. Khi Chúa Giê-su ở trên đỉnh núi và các môn đồ tới với Ngài, hãy xem Ngài đã nói với họ những lời minh triết nào. Ý thức của Ngài đã thức tỉnh với nhận biết này, và Ngài đã đứng vững trong quyết tâm cao cả ấy: con người chỉ có thể mở ra đầy đủ quyền năng của mình khi có một lý tưởng thật, một mục đích thật trong đời. Một hạt giống chỉ bắt đầu lớn được khi nó bám chắc vào đất. Quyền năng Thượng đế bên trong chỉ có thể làm nảy ra một ước muốn chân thật khi nó bám chắc trong linh hồn con người. Tất cả chúng ta phải biết, như Chúa Giê-su đã biết, rằng cái thôi thúc tâm linh đầu tiên hướng tới sự biểu lộ, chính là ước muốn rõ ràng được biểu lộ.

"Chúa Giê-su nói: 'Phước cho những ai có tâm hồn nghèo khó.' Ngài hiểu rằng bất cứ giới hạn nào trong đời, hễ khơi lên được trong con người ước muốn vượt lên trên giới hạn đó và tự giải thoát khỏi nó, thì đều là tốt. Ngài hiểu rằng cái thiếu chính là lời báo trước sự đủ đầy. Ngài nhìn mỗi nhu cầu như một mảnh đất đã được dọn sẵn cho hạt giống. Nếu gieo hạt xuống, rồi để nó lớn lên và trổ ra, thì nó sẽ lấp đầy nhu cầu đó. Nhu cầu, hay ước muốn, trong sự mở ra của đời sống, vẫn thường bị hiểu lầm. Có những bậc thầy lớn dạy rằng phải dập tắt nó khỏi lòng mình. Chúa Giê-su nói: 'Khốn cho các người là kẻ đã thỏa mãn.' Nếu anh đã thỏa mãn, anh đứng yên một chỗ. Muốn chạm tới đời sống một cách đầy đủ, thì mỗi giây phút chúng ta phải tìm cách biểu lộ đời sống một cách đầy đủ. Ước muốn điều đó chính là sức thúc đẩy hướng tới nó. Mỏi mệt vì phải bò trong bụi đất, con người khao khát được bay. Và nỗi khao khát ấy mời gọi họ đi tìm cái biểu hiện của Luật, giúp họ vượt lên trên những giới hạn hiện tại. Tìm ra rồi, họ có thể đi tới nơi nào họ muốn, chẳng cần nghĩ tới thời gian hay khoảng cách. Người ta vẫn nói: mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Sự thật thì ngược lại: Thượng đế mưu tính, còn con người làm nên. Nếu con người sẵn lòng như vậy, thì họ có thể làm được mọi điều Thượng đế làm. Chẳng lẽ người Con không làm được những gì Cha đã làm sao?

"Khi những thứ bên ngoài không làm thỏa lòng được, linh hồn sẽ quay vào tìm quyền năng bên trong. Lúc đó con người có thể khám phá ra "Ta Là", có thể biết rằng bên trong mình có đủ mọi quyền năng để làm thỏa linh hồn, để đáp ứng mọi nhu cầu và ước muốn của nó. Hiểu biết này có khi chưa tới, cho tới lúc con người bị những va đập của thế gian dồn đẩy, phải đi tìm cái cõi bình an, tĩnh lặng bên trong ấy. Khi họ biết cái Ta Là chính là sự thành tựu ước muốn của mình, thì ước muốn được thành tựu. Đi tìm sự thành tựu ước muốn ở bên ngoài cái tôi Thượng đế là dại dột. Muốn mở ra, thì chính cái tôi phải tự mở ra.

"Vậy thì đó là một nhận biết lớn lao biết bao, một sự thức tỉnh biết bao, khi biết được cái Ta Là. Biết rằng bên trong mình có quyền năng, chất liệu và trí tuệ, từ đó mọi hình tướng thành hình. Và biết rằng ngay khi một ý niệm rõ ràng, chân thật về ước muốn được hình thành một cách sáng suốt, thì quyền năng, trí tuệ và chất liệu của Thần Linh phải tuôn về đó và làm nó hiện ra. Chẳng phải đó là những kho báu trên trời mà chúng ta chưa từng nhìn thấy sao? Ở đây, trong cái chưa thành hình, là những kho báu vô biên giấu kín bên trong chính chúng ta. Với người đã tìm thấy viên ngọc, điều này rõ ràng biết bao. Rồi hãy nghĩ tới câu: 'Trước hết hãy tìm Nước Thượng đế và sự công chính của Ngài', mà công chính ở đây nghĩa là dùng cho đúng, 'thì mọi điều đó sẽ được thêm cho các người.' Lý do mọi thứ được thêm vào, là vì chúng được làm ra từ chính tinh chất của Thần Linh. Ý thức phải tìm thấy Thần Linh trước đã, rồi mới có thể tạo hình cho điều mình mong muốn.

"Người đã thức tỉnh nhận ra nguyên lý sáng tạo ở bên trong mình. Rồi họ thấy, và cái nhận biết ấy là cơ hội của đời họ. Họ có một tầm nhìn, hay nhận ra những khả năng của mình, những khả năng đang mở ra trước mặt. Biết rằng quyền năng sáng tạo nằm ở bên trong, họ nhớ lại ước muốn sâu thẳm của lòng mình. Ước muốn ấy trở thành một lý tưởng, một cái khuôn, kéo quyền năng và chất liệu tới để đổ đầy khuôn. "Ta Thấy" là sự hình dung của linh hồn. Đó là Đất Hứa, là giấc mơ thành sự thật, nơi linh hồn có thể hướng về trong niềm tin. Dù có thể chưa nắm được nó một cách ý thức, nó vẫn phải hiện ra thành hình hài thấy được, khi người đó làm đúng theo Luật. Có thể phải đi qua, và vượt qua, cả một vùng hoang mạc của những trải nghiệm. Điều đó chỉ làm cho linh hồn xứng đáng với sự chuộc tội. Hiểu tầm nhìn như một Đất Hứa, một lý tưởng sẽ được thực hiện, sẽ trở thành thật, linh hồn giờ chỉ thấy điều tốt, chỉ thấy cái mình ước muốn. Ở đây không được có nghi ngờ, không dao động, không chần chừ, vì những điều đó sẽ là chết người. Phải trung thành với tầm nhìn và tiến tới. Tầm nhìn này tiêu biểu và cần thiết như bản vẽ, bản thiết kế của một tòa nhà. Phải trung thành với tầm nhìn, như người thợ xây trung thành với bản vẽ và bản thiết kế mà kiến trúc sư đã đưa cho mình. Ngoài sự thật ra, mọi thứ khác đều phải gạt bỏ.

"Mọi linh hồn lớn đều trung thành với tầm nhìn của mình. Mọi thứ được làm ra, trước hết đều là một tầm nhìn, một ý niệm hạt giống gieo vào linh hồn, rồi được để cho nảy nở và hiện ra. Những linh hồn ấy không bao giờ để sự hoài nghi của người khác lay chuyển mình. Họ sẵn lòng hy sinh vì tầm nhìn của mình, họ trung thành với nó, họ tin nó, và họ tin thế nào thì được thế ấy. Chúa Giê-su đã một lòng kiên định với tầm nhìn của Ngài. Ngài giữ đúng kế hoạch của mình, ngay cả khi những người gần gũi, thân yêu nhất của Ngài không tin và không trung thành. Ngài tin thế nào thì được thế ấy, và với mọi người cũng vậy.

"Khi một người lên đường đi về Đất Hứa, thì vùng đất tối tăm phải được bỏ lại, quên đi. Họ phải rời bóng tối và bước về phía ánh sáng. Không thể vừa đi vừa ở lại cùng một lúc. Cái cũ phải bỏ, cái mới phải giữ. Họ phải quên đi những điều không muốn nhớ, và chỉ nhớ những điều muốn giữ lại. Việc này cũng cần như việc kia. Nếu muốn tầm nhìn thành hiện thực, thì chỉ được nhớ tầm nhìn mà thôi. Họ nhớ bằng cách giữ trong tâm trí cái tầm nhìn mình muốn làm hiện ra. Họ phải gạt khỏi trí nhớ, hay không chịu nhớ, cái điều mình không muốn làm hiện ra. Mỗi ý niệm, ý nghĩ, lời nói, việc làm đều phải trung thành với tầm nhìn, thì mới làm nó hiện ra được. Đó là sự tập trung thật sự, sự tập trung của lòng tận tụy, sự dồn mọi sức lực vào điều cốt yếu. Đó là yêu lý tưởng của mình. Chỉ qua tình thương, một lý tưởng mới được biểu lộ. Tình thương làm cho lý tưởng trở thành hiện thực.

"Nếu lúc đầu thất bại, họ phải quyết tâm và tiến tới. Đó là sự vận dụng ý chí, là tiếng reo của lòng tự tin, là sự biểu lộ của đức tin, hướng quyền năng về phía lý tưởng. Lý tưởng không bao giờ đạt được nếu không có sự hướng dẫn quyền năng một cách ý thức như vậy, không có sự vận dụng ý chí như vậy. Thế nhưng sẽ là chết người cho lý tưởng, nếu chính ý chí cũng không mang tính lý tưởng. Ý chí phải có cùng phẩm chất với lý tưởng, là phẩm chất phụng sự. Nếu ý chí không mang ước muốn phụng sự, thì quyền năng mà ý chí muốn hướng dẫn không thể được giải phóng ra khỏi linh hồn. Ý muốn được người khác phục vụ làm dòng sự sống quay ngược lại chống chính mình. Ý muốn phụng sự giữ cho dòng sự sống chảy qua mình, và giữ cho mình luôn tỏa sáng. Phụng sự đem lại mục đích cho tầm nhìn; nó giải phóng tình thương vào đời sống. Làm sao tình thương được biểu lộ, nếu nó không chảy qua người đang biểu lộ sự sống? Nếu nó chảy qua ý thức, thì cả cơ thể đáp lại. Nó làm rung động từng tế bào bằng chính tình thương mà nó biểu lộ. Khi đó thân thể trở nên hài hòa; linh hồn trở nên rạng rỡ; tâm trí trở nên sáng suốt; ý nghĩ trở nên sắc bén, rực rỡ, sống động, rõ ràng; lời nói trở nên tích cực, chân thật, có tính xây dựng; xác thịt được đổi mới, thanh lọc và làm cho sống động; công việc được sắp đặt lại, và mọi thứ trở về đúng vị trí thật của nó. Cái Ta Là được biểu lộ qua cái tôi, và cái tôi không còn được phép đè nén cái Ta Là nữa. Nếu thân thể không vâng phục Thần Linh, thì làm sao nó biểu lộ được Thần Linh? Tâm trí ý thức phải tìm kiếm và muốn có Thần Linh, thì mới học được quyền năng của Thần Linh. Bằng cách đó, con người học biết rằng Thần Linh chính là sự đáp ứng cho nhu cầu. Không có cách nào để Thần Linh được biểu lộ cao hơn, là khi để nó đáp ứng nhu cầu của người khác. Chính sự tuôn chảy tới người khác mở ra kho tàng của Thần Linh. Chính câu 'Tôi muốn phụng sự' mở ra kho tàng vô tận của Thượng đế cho tất cả, và đem sự nhận biết ấy tới cho linh hồn.

"Linh hồn đã trở về nhà Cha ngay khi nó muốn phụng sự. Đứa con hoang đàng biết phụng sự trở thành người con được đãi tiệc. Kẻ làm thuê ăn vỏ đậu trở thành hoàng tử của một hoàng gia, gia đình của chính những khả năng nơi mình. Người ấy biết tình thương của Thượng đế, hiểu và nhận lấy món quà của Cha mình. Chỉ có người con mới nhận được món quà này. Không đầy tớ nào, không kẻ làm thuê nào bước vào được niềm vui thừa kế của người con. Người đầy tớ thì lúc nào cũng tìm cách đạt tới; còn người con thì đã thừa hưởng tất cả những gì Cha có. Khi chúng ta biết mình thuộc về nhà Cha, và là người thừa kế mọi thứ Cha có, thì chúng ta mới bắt đầu sống được như Cha muốn chúng ta sống. 'Kìa, giờ đây chúng ta là những người con của Thượng đế.' Ý thức làm con đem tới sự đủ đầy; ý thức làm đầy tớ đem tới sự thiếu thốn. Chúng ta sẽ thấy mọi ước muốn của lòng mình đều được Cha đáp ứng, ngay khi chúng ta sống đúng vai người Con, trong ý nghĩ, lời nói và việc làm. Chúng ta sẽ thấy những người con của Thượng đế là những người tự do."

Tới đây người đàn ông đứng dậy, chúc chúng tôi ngủ ngon, nói rằng ông mong gặp lại chúng tôi khi đoàn tới nơi trú đông, rồi ra đi.

Hết chương hai mươi hai.

Một bức tường đá nằm yên hơn hai nghìn năm không cần dùng tới, và một người lạ đi ngang chỉ để nói chuyện một buổi chiều trên mái nhà. Trong những điều ông nói, có một câu mình muốn giữ lại cho bạn: ý muốn phụng sự giữ cho dòng sự sống chảy qua mình. Hẹn bạn ở chương hai mươi ba nghen.