Tình Ca kể chuyện · Sách Nói Tình Ca
Ổ Bánh Mì Bẻ Chia Cả Hội Trường Mà Vẫn Y Nguyên
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Đời Sống Và Lời Dạy Của Các Chân Sư Viễn Đông" của Baird T. Spalding. Ở chương trước, các nhóm trong đoàn hẹn gặp lại nhau ở ngôi làng, nơi mẹ của Emil đã hiện ra trước mặt cả đoàn. Mời bạn nghe chương hai mươi mốt.
Chương hai mươi mốt.
Trước trưa ngày hôm sau, tất cả các nhóm đã về đủ. Cả buổi chiều, chúng tôi ngồi đối chiếu sổ ghi chép, và những gì mỗi nhóm ghi lại đều khớp nhau từng chữ. Chiều tối đó, khi đã xong việc ghi chép, chúng tôi được mời đi thẳng tới ngôi nhà hội để dùng bữa tối. Tới nơi, chúng tôi thấy chừng ba trăm người, cả đàn ông, đàn bà lẫn trẻ con, đã tề tựu, ngồi quanh những dãy bàn tiệc dài. Họ dành chỗ cho chúng tôi ở một cái bàn đầu phòng, để chúng tôi có thể nhìn dọc suốt chiều dài căn phòng. Bàn nào cũng trải khăn vải lanh trắng đẹp, bày chén đĩa sứ và muỗng nĩa mạ bạc như một bữa tiệc thật sự. Vậy mà cả gian phòng chỉ có một ngọn đèn leo lét.
Chúng tôi ngồi được chừng hai mươi phút thì cả phòng lặng hẳn đi. Rồi một lát sau, một thứ ánh sáng nhạt tràn ngập căn phòng. Ánh sáng mạnh dần, mạnh dần, cho tới khi cả phòng rực lên, mọi vật trong phòng lấp lánh, như thể có hàng ngàn bóng đèn được giấu khéo đâu đó, rồi được bật lên từ từ cho tới khi tất cả cùng sáng hết. Về sau chúng tôi mới biết, trong làng không hề có đèn điện. Ánh sáng lên rồi, sự im lặng kéo dài thêm chừng mười lăm phút. Rồi bất chợt, như có một làn sương tụ lại, và chúng tôi nghe lại đúng cái tiếng phất nhẹ như tiếng cánh chim mà tối hôm trước chúng tôi đã nghe, lúc mẹ của Emil hiện ra trước mặt. Sương tan, và đứng ở nhiều chỗ khác nhau trong phòng là mẹ của Emil cùng mười một người khác; tính cả bà là chín người nam và ba người nữ.
Lời nói không sao tả hết vẻ đẹp rạng ngời của cảnh tượng đó. Tôi nói rằng, dù không có cánh, họ trông như một đoàn thiên thần, thì đó không phải là nói quá. Họ đứng yên một thoáng, như bất động. Mọi người đều cúi đầu chờ đợi. Một lát sau, có tiếng nhạc cất lên từ những giọng hát không thấy người. Tôi từng nghe nói tới những giọng hát của cõi trời, nhưng phải tới đêm đó tôi mới được nghe tận tai. Chúng tôi như được nâng bổng khỏi chỗ ngồi. Gần cuối bài, những người vừa hiện ra đi về chỗ của mình. Và một lần nữa chúng tôi để ý, dù họ không hề cố đi cho nhẹ, chân họ không phát ra một tiếng động nhỏ nào.
Khi mười hai người đã ngồi vào chỗ của mình, làn sương lại hiện ra. Sương tan, có thêm mười hai người nữa đứng đó. Lần này là mười một người nam và một người nữ, và trong số đó có người bạn của chúng tôi, người bạn giữ văn khố. Trong lúc họ đứng đó một chút, một bài hát khác lại vang lên. Bài hát gần dứt thì mười hai người đi về chỗ của mình, không một tiếng động.
Họ vừa ngồi xuống thì làn sương mờ lại phủ đầy căn phòng. Khi sương tan, có mười ba người đứng đó, lần này đứng ngang cuối gian phòng, sáu người nam và bảy người nữ. Ba người nam, ba người nữ đứng mỗi bên của người nữ ở chính giữa. Người ở giữa trông như một cô gái xinh đẹp chừng mười mấy tuổi. Chúng tôi đã nghĩ người phụ nữ nào hiện ra cũng đẹp lắm rồi, nhưng cô gái này đẹp hơn tất cả. Họ đứng cúi đầu một lát, rồi tiếng nhạc lại vang lên. Tiếng nhạc lơ lửng một lúc, rồi dàn đồng ca bắt đầu hát. Chúng tôi đứng bật dậy. Khi những âm thanh cứ thế cuộn đi, chúng tôi như thấy hàng ngàn hình bóng huyền nhiệm chuyển động quanh đó, cùng hát như chung một giọng. Và suốt bài hát, không có một điệp khúc buồn nào, không có một giai điệu u buồn nào. Tất cả là một khúc nhạc vui tươi, phóng khoáng, đến từ tâm hồn và chạm tới tâm hồn, nâng nó lên, lên mãi, cho tới khi chúng tôi cảm thấy như mình không còn dính gì tới mặt đất nữa.
Tiếng hát dứt, mười ba người đi về chỗ và ngồi xuống. Mắt chúng tôi cứ dán chặt vào người ở giữa, khi cô tiến về phía bàn chúng tôi, mỗi bên có một người phụ nữ đi kèm. Cô ngồi ở đầu bàn chúng tôi. Khi cô ngồi xuống, chén đĩa được lặng lẽ xếp chồng lại bên tay trái cô. Đèn mờ đi một lát, và quanh mỗi người trong ba mươi bảy người đó có cái thứ ánh sáng từng làm chúng tôi thắc mắc mãi, còn ngay trên đầu vị khách danh dự của chúng tôi là một vầng sáng tròn đẹp vô cùng. Trong cả hội trường, chỉ có chúng tôi là xúc động mạnh. Những người ngồi cùng chúng tôi hình như coi đó là chuyện đương nhiên.
Khi mọi người đã ngồi đâu vào đấy, sự im lặng còn kéo dài một lúc. Rồi mọi giọng trong phòng cùng cất lên một bài ca vui tươi, phóng khoáng, do ba mươi bảy người vừa hiện ra dẫn giọng. Hát xong, người phụ nữ ngồi đầu bàn chúng tôi đứng dậy, đưa hai bàn tay ra. Trên tay cô hiện ra một ổ bánh mì nhỏ, mặt cắt vuông chừng năm phân mỗi cạnh, dài chừng ba mươi lăm phân. Rồi lần lượt từng người trong ba mươi sáu người kia đứng dậy, bước tới, nhận từ tay cô một ổ bánh giống như vậy. Họ đi khắp các bàn, chia cho mỗi người một phần bánh. Người phụ nữ của bàn chúng tôi cũng đi quanh, chia cho mỗi người một phần bánh từ ổ bánh của cô.
Khi trao cho mỗi người chúng tôi phần bánh của mình, cô nói: "Các anh không biết sao, Đấng Christ ngự ở trong các anh và trong mọi người? Các anh không biết sao, thân thể các anh tinh khiết, hoàn hảo, trẻ trung, đẹp mãi, thiêng liêng? Các anh không biết sao, Thượng đế đã tạo ra các anh đúng theo hình ảnh và giống như chính Ngài, và trao cho các anh quyền làm chủ muôn vật? Tự nơi chính mình, các anh luôn luôn là Đấng Christ, người Con hoàn hảo của Thượng đế, người Con một của Thượng đế, người mà Cha Mẹ trên trời hết lòng đẹp ý. Các anh tinh khiết, hoàn hảo, thánh thiện, thiêng liêng, là một với Thượng đế, là trọn điều Tốt. Và mỗi một người con, không trừ ai, đều có quyền nhận lấy địa vị làm con này, phần thiêng liêng này." Khi ai nấy đã được chia phần, cô trở về chỗ. Và ổ bánh vẫn dài, vẫn to y như lúc cô bẻ phần đầu tiên.
Xong nghi lễ đó, thức ăn bắt đầu được mang ra. Thức ăn đựng trong những cái thố lớn có nắp đậy. Những cái thố cứ thế hiện ra trên bàn, ngay trước mặt người phụ nữ, như có những bàn tay vô hình đặt xuống. Cô giở nắp, để qua một bên, rồi bắt đầu múc thức ăn. Múc xong đĩa nào thì đĩa đó được chuyền đi, một đĩa cho người phụ nữ bên phải, một đĩa cho người phụ nữ bên trái, rồi hai người đó lại chuyền tiếp, cho tới khi ai cũng có phần, mà phần nào cũng đầy đặn.
Bữa ăn mới được một lúc thì trưởng đoàn chúng tôi hỏi cô, theo cô thì phẩm tính lớn nhất của Thượng đế là gì. Không ngần ngừ một giây, cô trả lời: "Tình Thương." Rồi cô nói tiếp: "Cây Sự Sống nằm giữa khu vườn địa đàng của Thượng đế, tức là nơi sâu thẳm nhất của chính linh hồn chúng ta. Và trái ngọt dồi dào nhất mọc lên và chín tới mức hoàn hảo nhất trên cây đó, thứ trái hoàn hảo nhất và ban sự sống nhiều nhất, chính là Tình Thương. Những ai nhìn ra bản chất thật của Tình Thương đã gọi nó là điều lớn lao nhất trên đời. Tôi xin nói thêm, nó đúng là điều lớn lao nhất trên đời. Và tôi xin nói thêm nữa, nó là sức mạnh chữa bệnh lớn nhất trên đời. Tình Thương không bao giờ để lòng người cầu xin mà không được đáp ứng. Nguyên Lý Thiêng Liêng của Tình Thương có thể được dùng để xóa đi mọi nỗi buồn, mọi bệnh tật, mọi hoàn cảnh khắc nghiệt và mọi sự thiếu thốn đang dày vò loài người. Nếu hiểu đúng và dùng đúng cái ảnh hưởng tinh tế và vô hạn của tình thương, thì thế gian có thể được chữa khỏi mọi vết thương, và tấm áo dịu dàng của lòng từ bi thiên thượng có thể phủ lên mọi sự bất hòa, mọi sự u mê và mọi lầm lỗi của con người.
"Với đôi cánh dang rộng, Tình Thương tìm tới những chỗ khô cằn trong lòng người, những chỗ hoang vu của đời sống, và bằng cái chạm như có phép màu, nó cứu chuộc con người và biến đổi thế gian. Tình Thương là Thượng đế, vĩnh cửu, vô hạn, không đổi thay, vượt khỏi mọi cái nhìn, đi vào chỗ vô cùng. Điểm tận cùng, chúng ta chỉ có thể hình dung mà thôi. Tình Thương tự làm trọn luật của chính nó, hoàn tất công việc hoàn hảo của nó, và làm hiển lộ Đấng Christ ở bên trong linh hồn con người. Tình Thương luôn tìm một lối vào, để qua đó nó có thể chảy vào linh hồn con người và tuôn đổ ra thành mọi điều tốt lành cho người ấy. Nếu không bị cái ương ngạnh và những ý nghĩ lệch lạc của con người khuấy động, thì dòng tình thương vĩnh cửu, không đổi của Thượng đế sẽ cứ chảy tới mãi, cuốn trôi theo nó, ra tới biển quên lãng mênh mông của Vũ trụ, mọi dáng vẻ bất hòa hay xấu xí đang làm xáo trộn sự bình an của con người. Tình Thương là trái hoàn hảo của Thần Linh. Nó đi ra, băng bó những vết thương của nhân loại, kéo các dân tộc lại gần nhau hơn trong hòa hợp, và mang bình an, thịnh vượng tới cho thế gian. Nó chính là mạch đập của thế giới, là nhịp tim của vũ trụ. Loài người phải được nạp đầy dòng tình thương này từ Sự Sống lớn lao có mặt khắp nơi, nếu muốn làm được những việc Chúa Giê-su đã làm.
"Đời sống có đè nặng lên các anh không? Các anh có cần lòng can đảm và sức mạnh để đối diện với những vấn đề trước mặt không? Các anh đang bệnh, hay đang sợ? Nếu vậy, hãy nâng lòng lên, cầu nguyện với Đấng đi trước dẫn đường. Tình thương không bao giờ phai của Thượng đế đang ôm lấy các anh. Các anh không cần phải sợ. Ngài đã chẳng nói sao: 'Trước khi họ kêu, Ta sẽ đáp; họ còn đang nói, Ta đã nghe rồi'? Hãy mạnh dạn đến gần ngai ân sủng này, không phải với cái thái độ van xin, khúm núm như các anh vẫn nghĩ, mà với lời cầu nguyện của một đức tin có hiểu biết, biết rằng sự giúp đỡ mình đang cần đã là của mình rồi. Đừng bao giờ nghi ngờ. Còn hơn thế nữa, hãy xin. Hãy nhận lấy quyền thừa kế của mình, là con của Thượng đế hằng sống, như Chúa Giê-su đã làm. Hãy biết rằng trong Chất Liệu Vũ Trụ vô hình, nơi tất cả chúng ta sống, động và hiện hữu, có sẵn mọi điều tốt lành, hoàn hảo mà con người có thể mong muốn, đang chờ được đức tin kéo ra thành hình dạng thấy được, thành sự hiển hiện. Các anh hãy đọc trong Cuốn Sách lớn của chính các anh những gì Thánh Phao-lô nói về tình thương, trong thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô, chương mười ba, và dùng chữ 'tình thương' thay cho chữ 'lòng bác ái', đúng như ý nguyên thủy.
"Hãy nghĩ tới vua Sa-lô-môn. Trong đêm trải nghiệm của mình, ông đã để bản tính yêu thương rạng ngời của mình mở rộng ra tới cõi ý thức của Vũ trụ, nơi ông xin được phục vụ chứ không xin cho riêng mình. Điều đó đem tới cho ông của cải không sao đếm xuể, lại thêm sự sống và vinh hiển vượt xa những gì ông dám xin. Ông nhận ra sự khôn ngoan của Tình Thương, và Tình Thương đã tuôn đổ kho báu vô tận của nó lên ông. 'Vào thời Sa-lô-môn, bạc chẳng được kể ra gì.' Ngay cả những chiếc ly uống nước của vị vua hùng mạnh của tình thương ấy cũng làm bằng vàng ròng.
"Thương yêu là mở ra kho báu vàng vô hạn của Thượng đế. Nếu chúng ta thương yêu, chúng ta không thể nào không cho đi. Mà cho đi là được nhận, và luật của tình thương được làm trọn. Rồi khi cho đi, chúng ta làm cho cái luật không bao giờ sai chạy, đong đấu nào thì nhận đấu ấy, bắt đầu vận hành. Dù không hề nghĩ tới chuyện nhận lại, chúng ta cũng không thể nào tránh khỏi việc được nhận, vì sự dồi dào các anh đã cho đi sẽ trở về với các anh, đúng như luật đã nói: 'Hãy cho, thì sẽ được cho lại; người ta sẽ lấy đấu tốt, nhận xuống, lắc cho đầy tràn, mà đổ vào lòng các ngươi. Vì các ngươi đong bằng đấu nào, thì cũng sẽ được đong lại bằng đấu ấy.'
"Nếu chúng ta làm việc trong tinh thần của tình thương, chúng ta phải có Thượng đế hiện diện trong ý thức. Là một với Sự Sống, Tình Thương và Sự Khôn Ngoan, tức là tiếp xúc có ý thức với Thượng đế. Tiếp xúc có ý thức với Thượng đế, tức là được sự dồi dào dồn tới cho mình, giống như tối nay thức ăn dồi dào đã được dồn tới cho chúng ta vậy. Các anh thấy đó, có dư dả cho tất cả mọi người, và không ai phải thiếu thốn khi đứng trước sự dồi dào của Thượng đế. Ý nghĩ về sự dồi dào phải nâng tâm trí lên vượt xa mọi bờ cõi của sự giới hạn. Muốn hình dung được sự dồi dào, người ta phải buông hết mọi ý nghĩ về những thứ cụ thể. Khái niệm này lớn tới mức không chứa nổi những ý nghĩ về chi tiết. Muốn giữ được nó trong tâm, ý thức phải vươn xa ra tới Vũ trụ, và hân hoan trong niềm vui của sự tự do hoàn toàn. Tuy vậy, không được coi sự tự do này là buông thả, vì chúng ta phải chịu trách nhiệm về từng ý nghĩ, từng việc làm. Ý thức của chúng ta không thể đạt tới sự tự do này trong chốc lát. Cái dấu vết cuối cùng của sự giới hạn có thể bị phá vỡ trong chớp mắt, nhưng sự chuẩn bị cho biến cố vẻ vang đó đã diễn ra từ trước. Sự chuẩn bị, tới từng chi tiết nhỏ nhất, đã hoàn tất từ bên trong, giống như từng cánh hoa đã được hoàn thiện tới từng chi tiết ngay bên trong nụ. Khi sự hoàn thiện đã đủ, nụ hoa bung lớp đài bao bọc, và bông hoa hiện ra xinh đẹp. Con người cũng vậy, phải phá vỡ lớp vỏ của cái tôi thì mới bước ra được.
"Các luật của Thượng đế không bao giờ thay đổi, xưa sao thì nay vậy. Tuy bất di bất dịch, các luật ấy lại đầy lòng nhân hậu, vì chúng là điều tốt. Khi chúng ta sống thuận theo các luật ấy, chúng trở thành những viên đá nền để chúng ta xây lên sức khỏe, hạnh phúc, bình an và sự vững vàng, sự thành công và những gì mình đạt tới. Nếu chúng ta ở trọn trong luật của Thượng đế, thì không điều dữ nào xảy tới được với chúng ta. Chúng ta không cần được chữa bệnh. Chúng ta vốn lành lặn hoàn toàn.
"Chúng ta thấy rõ biết bao, trong trái tim lớn của nhân loại có một nỗi nhớ nhà sâu thẳm, mà không gì có thể làm cho nguôi, ngoài một ý thức sáng tỏ, một sự hiểu biết rõ ràng về Thượng đế, Cha của chúng ta. Chúng tôi nhận ra cơn đói đó chính là tiếng lòng khao khát Thượng đế. Không có gì linh hồn con người khao khát cho bằng được biết Thượng đế, 'Đấng mà biết Ngài cho đúng là sự sống đời đời'. Chúng tôi thấy người ta cứ chạy từ thứ này qua thứ khác, mong tìm được sự thỏa lòng hay sự an nghỉ trong một thành tựu nào đó, hay trong việc có được một ước muốn hữu hạn, phàm trần nào đó. Chúng tôi thấy họ đuổi theo và có được những thứ đó, rồi chỉ thấy mình vẫn chưa thỏa. Có người tưởng mình muốn nhà cửa đất đai, có người muốn giàu sang lớn, có người muốn học vấn cao. Chúng tôi có phước được biết rằng con người có sẵn tất cả những thứ đó ở bên trong mình. Chúa Giê-su, bậc Chân sư Lớn, đã cố cho mọi người thấy điều đó. Chúng tôi thương Ngài biết bao! Ngài nổi bật lên, chiến thắng một cách đẹp đẽ, nhờ những gì Ngài đã đạt tới. Chúng tôi thương tất cả những ai đã lên tới những đỉnh cao, những tầng cao trong ý thức như Chúa Giê-su. Chúng tôi thương họ không chỉ vì những gì họ đạt tới, mà vì chính con người thật của họ.
"Sau khi được giác ngộ, Chúa Giê-su không bao giờ để mình sống ở cái bên ngoài. Ngài luôn giữ ý nghĩ của mình ở phần trung tâm của bản thể, tức là Đấng Christ. Nơi Chúa Giê-su, Đấng Christ, hay Tia Sáng Trung Tâm, tức là Thượng đế ở trong tất cả chúng ta, đang sống trong mỗi người ngày nay, đã được khơi ra để cho thấy nó hoàn toàn làm chủ thân xác vật chất, làm chủ con người xác thịt. Chính bằng cách đó mà Ngài làm được mọi việc quyền năng của Ngài, chứ không phải vì Ngài khác các anh ở chỗ nào. Ngài không có quyền năng nào lớn hơn những gì mọi người đang có ngày nay. Không phải Ngài là Con của Thượng đế theo một cách riêng nào đó, còn chúng ta chỉ là đầy tớ của Thượng đế. Ngài làm được những việc ấy là vì cũng chính Tia Sáng Thiêng Liêng đó, mà Đức Cha đã gieo vào mỗi đứa trẻ sinh ra, đã được Ngài thổi bùng thành ngọn lửa sáng hơn, bằng chính nỗ lực của Ngài, khi giữ mình luôn hiệp thông có ý thức với chính Thượng đế, cội nguồn của mọi Sự Sống, Tình Thương và Quyền Năng.
"Chúa Giê-su là một con người, như mọi người ngày nay. Ngài đau khổ, bị cám dỗ và thử thách, y như các anh đau khổ vì cám dỗ và thử thách. Chúng tôi biết, trong thời gian sống trên mặt đất trong thân xác thấy được, ngày nào Chúa Giê-su cũng dành nhiều giờ ở một mình với Thượng đế. Và chúng tôi biết, trong những năm đầu tuổi trưởng thành, Ngài đã trải qua đúng những gì chúng tôi đã trải qua, và những gì các anh đang trải qua hôm nay. Chúng tôi biết, mỗi người đều phải vượt qua cái phàm trần, những ham muốn xác thịt, những nghi ngờ và sợ hãi, cho tới khi đạt được ý thức hoàn hảo, sự nhận biết hoàn toàn về Sự Hiện Diện ở bên trong, về 'Cha ở trong tôi', Đấng mà Chúa Giê-su quy hết công lao của mọi việc quyền năng Ngài đã làm. Ngài đã phải học, như chúng tôi đã phải học, và như các anh đang học hôm nay. Ngài đã phải thử đi thử lại nhiều lần, như các anh đang làm. Ngài đã phải bám chặt, như các anh hôm nay phải bám chặt, thậm chí nắm chặt tay, nghiến chặt răng mà nói: 'Tôi sẽ thành công. Tôi biết chắc Đấng Christ đang sống ở trong tôi.' Chúng tôi nhận ra rằng chính Đấng Christ ở bên trong đã làm cho Chúa Giê-su thành người như Ngài đã là, và đang là hôm nay, và những gì Ngài đạt tới là dành cho tất cả mọi người. Nói tất cả những điều này, chúng tôi không hề muốn làm giảm đi chút nào về Chúa Giê-su, vì chúng tôi thương Ngài bằng một tình thương không nói nên lời. Chúng tôi biết Ngài đã chịu đóng đinh cái tôi một cách hoàn toàn, để có thể dẫn dân mình về với Thượng đế; để chỉ cho họ con đường ra khỏi tội lỗi, bệnh tật và khổ đau, để họ có thể làm hiển lộ Đức Cha ở trong họ; để dạy cho mọi người biết rằng cũng chính một Đức Cha ấy sống trong mọi người và thương mọi người. Không ai theo sát đời sống và lời dạy của Chúa Giê-su mà lại không thương Ngài. Ngài là người anh cả hoàn hảo của chúng ta.
"Nhưng nếu chúng ta bán đi quyền thừa kế của mình, nếu chúng ta xem thường hay khinh rẻ những luật đầy nhân hậu của Thượng đế, và vì vậy quay lưng lại với nhà Cha, lang thang tới một xứ xa, như đứa con hoang đàng, thì sự bình an và no đủ, sự ấm áp và vui vẻ dư dật ở trong nhà còn có ích gì cho mình? Khi các anh đã chán những vỏ đậu của đời sống, khi các anh mỏi mệt và nhớ nhà, thì dù bước chân còn lảo đảo, các anh vẫn có thể lần lại đường về nhà Cha. Có thể về bằng con đường của những trải nghiệm đắng cay, hoặc bằng cách vui vẻ buông bỏ mọi thứ vật chất. Sự hiểu biết và nhận thức có được bằng cách nào cũng không quan trọng, rồi cuối cùng các anh cũng sẽ tiến tới cái đích của ơn gọi cao quý của mình. Mỗi bước đi, các anh sẽ mạnh mẽ hơn, dạn dĩ hơn, cho tới khi không còn lảo đảo, không còn ngần ngừ nữa. Các anh sẽ nhìn vào bên trong mình để tìm ánh sáng. Rồi trong ý thức đã thức tỉnh, các anh sẽ nhận ra rằng nhà là ở đây. Nhà chính là Sự Hiện Diện Thiêng Liêng ở khắp nơi, nơi tất cả chúng ta sống, động và hiện hữu. Chúng ta thở nó trong từng hơi thở. Chúng ta sống nó trong từng nhịp tim.
"Đừng nghĩ rằng các anh phải tìm tới chúng tôi. Hãy vào nhà của mình, vào nhà thờ của mình, vào nơi cầu nguyện của mình, một mình, ở bất cứ đâu các anh chọn. Chúa Giê-su, bậc Chân sư lớn của tình thương, có thể giúp các anh. Tất cả những người đã đi qua và đang nhận những lời dạy cao nhất đều có thể giúp các anh, và đang ra sức giúp các anh, ngay tại chỗ các anh đang đứng, và vào mọi lúc. Chúng tôi thấy rõ biết bao Chúa Giê-su và tất cả những vị khác lúc nào cũng sẵn sàng giúp những ai kêu tới. Các anh chỉ cần kêu, và các vị ấy đã đáp lại trước cả khi các anh kêu xong. Các vị ấy đứng và đi bên cạnh các anh từng giây từng phút. Điều các anh phải làm là nâng ý thức của mình lên, để có thể thấy và biết rằng mình đang đi bên cạnh các vị ấy. Khi đó các anh sẽ không còn lảo đảo nữa. Các vị ấy đang chìa tay ra mà nói: 'Hãy đến với Ta, Ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi.' Câu đó không có nghĩa là 'Hãy đến sau khi chết'. Câu đó có nghĩa là 'Hãy đến ngay bây giờ, y như mình đang là'. Hãy nâng ý thức của các anh lên tới ý thức của chúng tôi, và kìa, các anh đứng ngay nơi chúng tôi đang đứng tối nay, vượt lên trên mọi giới hạn phàm trần, tự do dồi dào.
"Bình An, sức khỏe, tình thương, niềm vui và thịnh vượng ở ngay đây. Đó là những trái của Thần Linh, những món quà của Thượng đế. Nếu chúng ta hướng về Thượng đế, thì không điều hại nào xảy tới được với chúng ta, không điều dữ nào tới gần chúng ta được. Nếu chúng ta hướng trọn về Ngài, chúng ta được khỏi mọi bệnh tật của mình, nhân danh siêu việt của Luật, hay của Chúa Giê-su.
"Thượng đế ở ngay giữa các anh, hỡi người con của Thần Linh vô hạn, bất tử. Không có gì làm cho các anh phải run rẩy hay tuyệt vọng, không có gì làm cho các anh phải sợ. Các anh đến từ lòng Đức Cha. Hơi thở của Thượng đế Toàn Năng đã tạo ra các anh thành một linh hồn sống. 'Trước khi có Áp-ra-ham, đã có các anh. Hỡi những người yêu dấu, giờ đây chúng ta là những người con của Thượng đế, đồng thừa kế với Đấng Christ.' Quyền năng ở trong Chúa Giê-su thì cũng ở trong các anh. Cái đó được gọi là tấm áo choàng của Thần Linh. Khi hiểu đúng điều này, người ta thấy rằng không có sự hư hoại, không có bệnh tật, không có tai nạn, không có cái chết, không có gì có thể lấy đi sự sống của các anh bằng bất cứ cách nào. Các anh có thể quấn tấm áo choàng này sát quanh mình tới mức không gì xuyên qua được, không gì chạm được tới các anh. Mọi phương tiện, mọi sức mạnh hủy diệt mà con người từng tạo ra có thể nhắm vào các anh, vậy mà các anh vẫn bước ra không hề hấn gì. Nếu chẳng may cái hình hài bên ngoài bị hủy đi, nó sẽ trở lại ngay tức khắc, dưới dạng tinh thần, mà vẫn y hình dáng cũ. Đây là một bộ giáp tốt hơn mọi tấm giáp sắt con người từng chế ra, và các anh có thể dùng nó vào mọi lúc, không tốn tiền, không mất giá nào. Các anh có thể đứng ra đúng như con người thật của mình, là con của Thượng đế hằng sống.
"Chúa Giê-su biết điều này, và lẽ ra Ngài đã có thể tránh cho mình trải nghiệm trên đồi Can-vê. Nếu Ngài muốn dùng quyền năng của mình, kẻ thù đã không thể đụng tới Ngài. Ngài thấy có một sự biến đổi tinh thần lớn lao đang diễn ra trong thân thể mình. Và Ngài thấy rằng, nếu sự biến đổi đó xảy ra giữa những người Ngài quen biết và thương mến mà không có một thay đổi nào bên ngoài, thì rất nhiều người sẽ không nhận ra ý nghĩa tinh thần của nó, mà vẫn bám vào cái con người riêng. Ngài biết mình có quyền năng vượt qua cái chết, và Ngài muốn cho những người Ngài thương thấy rằng họ cũng có quyền năng đó. Vì vậy Ngài chọn con đường Can-vê, con đường họ có thể nhìn thấy. Và đã thấy thì họ sẽ tin. Ngài cũng muốn cho thấy rằng Ngài đã hoàn thiện thân thể mình tới mức, dù kẻ thù có lấy mạng Ngài, theo cái cách họ hiểu về sự sống, rồi đặt thân Ngài vào mộ và lăn một tảng đá lớn chặn lên, tức là cái giới hạn cuối cùng con người có thể đặt lên nó, thì Ngài, cái Tự Ngã thật, vẫn có thể lăn tảng đá đi, và nâng thân thể thật, thân thể tâm linh của mình, lên trên mọi giới hạn phàm trần. Chúa Giê-su lẽ ra đã có thể mang thân thể mình đi và biến mất. Nhưng Ngài chọn cách cho thấy rằng, khi thân thể tâm linh đã phát triển, thì không có tai nạn hay hoàn cảnh vật chất nào có thể hủy diệt nó, kể cả việc bị người khác lấy mạng.
"Sau khi bị đóng đinh và thăng thiên, thân thể Ngài đã phát triển về mặt tinh thần cao tới mức Chúa Giê-su phải nâng ý thức của những người quanh Ngài lên một tầng mà ở đó họ có thể nhìn thấy Ngài, cũng như tối nay chúng tôi phải nâng ý thức của gần hết những người quanh chúng tôi. Sáng hôm đó, khi mấy người phụ nữ tới mộ, thấy tảng đá đã bị lăn đi và khăn liệm nằm đó, ngay cả họ cũng không nhận ra Ngài, cho tới khi Ngài nâng ý thức của họ lên tới tầng mà họ có thể nhìn thấy Ngài. Rồi sau đó, khi có hai người đang đi trên đường tới Em-ma-us, Chúa Giê-su tới gần và trò chuyện với họ, vậy mà họ không nhận ra Ngài, cho tới khi Ngài bẻ bánh với họ. Lúc đó, ý thức của họ được nâng lên tới tầng mà họ có thể nhìn thấy Ngài. Cũng vậy, khi Ngài hiện ra với những người khác, Ngài còn đi và nói chuyện với họ, vậy mà họ không nhận ra Ngài, vì ý thức của họ chưa hoạt động ở cái tầng có thể thấy được Ngài. Ngay khi ý thức của họ được nâng lên, hoạt động cùng tầng với Ngài, thì họ thấy Ngài. Khi đó, có một số người nhận ra được ý nghĩa tinh thần của thực tại. Họ thấy được cái ý nghĩa sâu xa nằm bên dưới tất cả. Họ biết. Vậy mà dù có tất cả những điều đó, vẫn có rất nhiều người không tin Ngài, vì họ chưa đạt tới một tầng ý thức mà ở đó họ có thể thấy, có thể nhận ra cái ý nghĩa tinh thần nằm bên dưới.
"Rồi tấm màn huyền bí do cái nhìn phàm trần của con người giăng ra đã được vén lên. 'Và bức màn trong đền thờ bị xé làm đôi, từ trên xuống dưới.' Con người đạt tới cái ý thức rằng cái chết đã bị vượt qua. Và không chỉ cái chết, mà mọi giới hạn phàm trần do con người tự đặt ra đều có thể và sẽ được vượt qua, bằng cách vượt lên trên chúng, tức là nâng ý thức của mình lên tới cái tầng mà ở đó không còn thấy chúng nữa, và vì vậy, chúng không còn tồn tại. Nếu ý thức này được yêu quý, được nâng niu, nó sẽ hiện ra.
"Đó là điều được mặc khải cho Gia-cóp khi ông nằm trên tảng đá cứng của vật chất. Ông được cho biết rằng điều gì mình chăm chú nhìn vào thì điều đó sẽ được sinh ra. Và khi thấm được điều này, ông được giải thoát khỏi sự trói buộc của vật chất. Chính điều này đã thúc ông đặt những cành cây có vằn đốm vào chỗ nước uống của đàn gia súc, khiến chúng đẻ ra những con có vằn đốm.
"Chúng ta có thể đặt lý tưởng của mình vào cái chưa có hình dạng một cách dứt khoát tới mức nó được thành hình trực tiếp từ cái vô hình, cái mà với ý thức phàm trần thì có vẻ không thấy được. Chỗ nước uống của đàn gia súc chỉ là biểu tượng cho tấm gương, qua đó hình ảnh được giữ trong tâm được phản chiếu vào linh hồn, vào chỗ sâu thẳm nhất, rồi được thai nghén và sinh ra. Những người bạn đang tụ họp ở đây tối nay cũng vậy. Chỉ có một số ít người tha thiết là nhận ra, rồi họ tiếp tục đi tới, mở mang, và làm công việc thật sự của Thượng đế. Những người khác khởi đầu tốt đẹp, nhưng chẳng bao lâu thấy rằng muốn vượt qua bức tường đầu tiên của vật chất thì phải gắng sức quá nhiều. Họ thấy cứ trôi theo dòng nước thì dễ hơn nhiều, và họ bỏ cuộc. Tất cả chúng tôi đều đã từng sống ở cõi thấy được, cõi phàm trần, trên mặt đất này. Thật ra, chúng tôi chưa bao giờ rời khỏi mặt đất. Bây giờ chúng tôi chỉ vô hình đối với những người còn ở trong ý thức phàm trần. Đối với những người ở một tầng ý thức cao hơn, chúng tôi lúc nào cũng thấy được.
"Mỗi hạt giống ý tưởng được đặt vào linh hồn đều trở thành một sự thai nghén, được trao cho một hình dạng bằng ý nghĩ trong tâm, rồi về sau được trải nghiệm dưới hình dạng vật chất. Những ý tưởng về sự hoàn hảo sẽ sinh ra sự hoàn hảo. Điều ngược lại cũng đúng y như vậy. Cũng như mặt trời và đất sẵn lòng như nhau khi nuôi lớn một cây đại thụ hay một bông hoa mảnh mai nhất, hễ hạt giống nào được gieo, thì Thần Linh và Linh Hồn cũng đáp lại con người như vậy. Điều gì người ấy mong muốn, điều gì người ấy xin mà tin, thì người ấy sẽ nhận được.
"Những người đã rời khỏi cõi thấy được qua cái chết đang hiện hữu ở đúng cái tầng tâm thần mà họ đã ở khi rời khỏi thân xác, vì tâm trí phàm trần hoạt động ở tầng tâm thần, tầng của các hiện tượng tâm thần. Đó là nguyên nhân có cái cõi tâm thần rộng lớn nằm giữa cõi vật chất, cõi thấy được, và cõi tâm linh thật sự. Tất cả những ai hướng tới cõi tâm linh thật sự đều phải băng qua cõi đó trước khi nhận ra được cõi tâm linh. Muốn nhận ra cõi tâm linh, chúng ta phải xuyên thẳng qua cõi tâm thần đó, đi thẳng tới Thượng đế. Cái chết chỉ giải thoát linh hồn tới tầng tâm thần, và linh hồn hiện hữu ở đúng cái tầng tinh thần mà nó đang ở khi rời khỏi thân xác. Người ra đi theo cách đó chưa nhận ra rằng chỉ có một Thần Linh, một Tâm, một Thân Thể, và tất cả đều từ Cái Một đó mà ra, rồi phải trở về với nó. Thần Linh được phát ra từ Cái Một đó và được trao cho một thân thể hoàn hảo cũng là một phần của Thần Linh Duy Nhất, y như cánh tay là một phần của toàn thân chúng ta. Và nó không bao giờ bị tách rời khỏi Cái Một, cũng như không bộ phận nào của thân thể chúng ta là một phần tách rời. Nó là một với toàn thân, và phải được gắn kết khớp khít với toàn thân thì mới làm nên cái toàn thể. Cũng vậy, mọi tinh thần, mọi sự biểu hiện đều phải được gắn kết khớp khít với nhau thì mới đầy đủ và hoàn hảo.
"Câu 'Tất cả sẽ được quy tụ về một chỗ' có nghĩa là chúng ta sẽ ý thức được rằng mình là một biểu hiện của Đấng Thiêng Liêng, và tất cả đều từ cùng một cội nguồn, là Thượng đế. Đó là sự chuộc tội, mà cũng là sự hợp nhất, sự trở nên một, khi biết rằng tất cả chúng ta đều được tạo ra theo hình ảnh và giống như Thượng đế, giống y như Ngài, là một hình ảnh mà qua đó Ngài có thể biểu hiện cái lý tưởng Ngài đã hình dung cho chúng ta.
"Sẵn lòng để Thượng đế biểu hiện hoàn hảo qua mình cái lý tưởng cao nhất mà Ngài đã hình dung, đó là ý nghĩa của câu: 'Xin đừng theo ý con, mà theo ý Ngài, lạy Thượng đế.' Không ai có thể vượt lên trên những ý nghĩ phàm trần mà không làm theo ý Thượng đế, dù người ấy làm điều đó một cách có ý thức hay không có ý thức."
Tới đây câu chuyện ngưng lại một chút, và một người trong đoàn chúng tôi hỏi về Tính Tương Đối của Vật Chất. Cô nói tiếp: "Thế giới thật là Chất Liệu, là Tính Tương Đối của Chất Liệu. Chúng ta hãy xét một chút về năm giới: giới khoáng vật, giới thực vật, giới động vật, giới con người và giới Thượng đế. Chúng ta bắt đầu từ giới khoáng vật, giới thấp nhất. Chúng ta thấy từng hạt nhỏ của giới khoáng vật đều biểu hiện một sự sống duy nhất, sự sống của Thượng đế. Các hạt khoáng vật bị phân rã, bị chia nhỏ, kết hợp với các thành phần của không khí và nước, đã tạo thành đất, mà từng hạt đất vẫn giữ sự sống ban đầu, sự sống của Thượng đế. Điều này nhường chỗ cho giới thực vật, sự biểu hiện cao hơn kế tiếp của Thượng đế. Rồi giới thực vật, mà mọi phần của nó đều chứa sự sống duy nhất này, đã lấy một phần sự sống này từ khoáng vật, làm cho nó tăng lên, nhân lên, và biểu hiện nó cao hơn một bậc, hướng về giới Thượng đế. Điều này nhường chỗ cho giới động vật, sự biểu hiện cao hơn kế tiếp của Thượng đế. Rồi giới động vật, mà mọi phần của nó đều chứa sự sống duy nhất, đã lấy một phần sự sống này từ thực vật, làm cho nó tăng lên, nhân lên, và biểu hiện nó cao hơn một bậc, hướng về giới Thượng đế. Điều này nhường chỗ cho giới con người, sự biểu hiện cao hơn kế tiếp của Thượng đế. Rồi giới con người, mà mọi phần của nó đều chứa sự sống duy nhất, đã lấy một phần sự sống duy nhất này từ giới động vật, và khi biểu hiện nó cao hơn một bậc, thì nhường chỗ cho giới Thượng đế, sự biểu hiện cao nhất qua con người. Khi con người đạt tới giới này, người ấy nhận ra rằng tất cả đều từ một Cội Nguồn mà ra, tất cả đều chứa một sự sống duy nhất, sự sống của Thượng đế, và người ấy đã làm chủ được mọi thứ vật chất. Nhưng chúng ta không cần dừng lại ở đây, vì mọi thứ đều là sự tiến lên. Tới đây rồi, người ấy sẽ thấy vẫn còn những thế giới mới cần chinh phục. Bây giờ chúng ta tới chỗ nhận ra rằng mọi không gian, mọi tầm vóc đều chứa một sự sống duy nhất, sự sống của Thượng đế, rằng tất cả đều từ một Cội Nguồn và một Chất Liệu mà ra. Vậy thì mọi chất liệu đều trở nên tương đối, tức là có liên hệ với nhau, phải không?"
Câu chuyện dừng ở đó, bữa tối cũng xong, bàn ghế được dọn ra khỏi phòng. Tiếp theo là một lúc vui chơi, có nhảy múa, ca hát, với tiếng nhạc do dàn đồng ca vô hình đảm nhận, và ai nấy đều vui vẻ với nhau. Cuối cùng, buổi tối khép lại trong tiếng nhạc và lời ca. Dàn đồng ca vô hình hiện ra cho thấy được, đi lại giữa những người đang tụ họp, và có lúc lơ lửng ngay trên đầu mọi người. Đoạn kết là một tràng nhạc, tiếng hát và tiếng cười bùng lên, ai cũng cùng góp vào. Tính chung tất cả, đó là cảnh tượng gây ấn tượng mạnh nhất mà chúng tôi từng chứng kiến.
Người ta nói với chúng tôi rằng, nếu chúng tôi chịu lắng lòng lại, thì lúc nào cũng có thể nghe được tiếng nhạc. Nhưng chỉ vào những dịp như thế này thì dàn đồng ca mới hát theo tiếng nhạc. Về sau chúng tôi thử vậy nhiều lần, và thấy rằng mình nghe được tiếng nhạc thật. Tiếng nhạc lúc nào cũng khẽ khàng, ngọt ngào, đẹp lắm, nhưng không bao giờ có cái âm vang vui tươi, phóng khoáng như buổi tối hôm đó, trừ khi có nhiều vị Chân sư tụ họp lại. Người ta nói với chúng tôi rằng tiếng nhạc này là cái mà xưa nay người ta gọi là dàn đồng ca thiên thần. Còn họ thì gọi nó là "bản giao hưởng của những linh hồn hòa hợp".
Chúng tôi dừng lại ở ngôi làng này ba ngày, và trong thời gian đó được gặp các người bạn của mình rất nhiều. Chiều tối ngày thứ ba, họ chào tạm biệt chúng tôi, nói rằng sẽ gặp lại chúng tôi ở chỗ trú đông, rồi biến mất.
Hết chương hai mươi mốt.
Một bữa tối đông người, ánh sáng tự dâng lên, một ổ bánh chia mãi mà không vơi. Bạn tin tới đâu thì nhận tới đó. Mình chỉ mong bạn giữ lại một câu cô gái ấy nói: thương yêu thì không thể không cho đi, mà cho đi là được nhận. Hẹn bạn ở chương hai mươi hai nghen.