Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Sách Nói Tình Ca

Người Mẹ Bảy Trăm Tuổi Hiện Ra Từ Làn Sương Trên Mái Nhà

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Đời Sống Và Lời Dạy Của Các Chân Sư Viễn Đông" của Baird T. Spalding. Chương trước, đoàn đã nghe đọc những văn khố cổ ở ngôi làng của Gioan Tẩy Giả, rồi từ giã dân làng lên đường. Mời bạn nghe chương hai mươi.

Chương hai mươi.

Suốt năm ngày tiếp theo, con đường đưa chúng tôi đi qua vùng đất mà Gioan đã từng đi. Tới ngày thứ năm thì chúng tôi tới ngôi làng nơi ngựa đang đợi sẵn. Ở đây Emil đón chúng tôi, và từ đó trở đi, đường tới làng của Emil tương đối dễ đi.

Càng tới gần làng, chúng tôi càng thấy dân cư đông đúc hơn, đường sá, lối mòn cũng tốt hơn hẳn mọi con đường chúng tôi từng đi qua. Đường đi men theo một thung lũng màu mỡ, và chúng tôi theo thung lũng này lên tới một vùng cao nguyên bằng phẳng. Chúng tôi để ý thấy càng đi, thung lũng càng hẹp dần, cho tới khi hai bên vách núi khép sát vô dòng suối, thành một hẻm núi.

Chừng bốn giờ chiều cái ngày chúng tôi tới làng, chúng tôi bỗng gặp một vách đá dựng đứng, dòng suối đổ xuống từ đó, cao chừng ba trăm bộ, tức khoảng chín mươi mét. Con đường dẫn tới một khoảng đất bằng dưới chân vách, gần ngọn thác. Chúng tôi thấy người ta đã đục một lối đi xuyên qua đá sa thạch, nghiêng bốn mươi lăm độ, dẫn lên cao nguyên phía trên. Dưới nền lối dốc đó có những bậc thang đẽo vô đá, nên đi lên rất dễ. Những cánh cửa đá lớn được làm sao cho có thể đóng kín lối vào ở chân vách, thành một chướng ngại đáng gờm cho bất cứ kẻ thù nào muốn xâm nhập.

Lên tới cao nguyên rồi, chúng tôi thấy cái cầu thang trên lối dốc đó là đường ra vô duy nhất từ phía con suối. Có một thời từng có ba lối vào, nhưng tường bao quanh làng bây giờ đã được xây lại sao cho chặn hết mọi lối có thể vào được.

Rất nhiều căn nhà trong làng được xây sao cho một bức tường của nhà là một phần của tường bao quanh làng. Chúng tôi để ý thấy những căn nhà như vậy thường cao ba tầng, và trên bức tường đó không có ô cửa sổ nào cho tới tầng thứ ba. Ở mỗi ô cửa đều có làm một cái ban công, đủ rộng cho hai ba người đứng thoải mái. Chúng tôi đoán làm vậy để lúc nào cũng có người canh gác được. Người ta cho biết vùng này xưa kia có một bộ tộc bản địa sinh sống. Họ tự cô lập mình khỏi những bộ tộc khác, cho tới khi cả bộ tộc biến mất, chỉ còn vài người hòa nhập vô các bộ tộc khác.

Đây là quê nhà của Emil, và cũng là nơi chúng tôi sẽ gặp lại những người trong đoàn, những người đã chia thành từng nhóm nhỏ để đi được nhiều vùng hơn. Hỏi ra mới biết chúng tôi tới đầu tiên, những người khác sẽ tới vào ngày mai. Chúng tôi được xếp ở một căn nhà xây vô tường làng. Cửa sổ tầng ba nhìn ra vùng núi non hiểm trở ở phía nam. Chúng tôi được lo cho chu đáo, và được báo bữa tối sẽ dọn ở tầng một, tức tầng trệt. Đi xuống thì thấy Emil, chị của ông, chồng bà, cùng người con trai và người con gái mà chúng tôi đã gặp ở ngôi đền mấy hôm trước, đang ngồi quanh bàn.

Vừa ăn tối xong thì chúng tôi nghe ồn ào ngoài khoảng sân nhỏ trước nhà. Một người dân làng đi vô báo tin trưởng đoàn và nhóm của ông đã tới. Họ được lo chỗ nghỉ ngơi đàng hoàng, rồi tất cả chúng tôi cùng lên mái nhà.

Mặt trời đã lặn, nhưng ánh tà dương vẫn còn vương lại. Cảnh trước mắt giống một cái chậu lớn, nơi hợp lưu của nhiều dòng suối đổ xuống qua những hẻm sâu từ những ngọn núi cao hơn. Mấy dòng suối này đều nhập vô một dòng lớn hơn, trước khi dòng lớn đó đổ qua vách đá dựng đứng xuống thung lũng bên dưới, thành ngọn thác. Dòng lớn này chảy ra từ một hẻm núi sâu, rồi chạy trên mặt cao nguyên bằng phẳng chỉ chừng vài trăm bộ, tức chừng trăm mét, là lao xuống vực.

Nhiều dòng nhỏ hơn đổ qua vách đứng của hẻm núi mà dòng lớn đã khoét ra, thành những ngọn thác thẳng đứng, có chỗ thành những dòng nước gầm thét. Có dòng rơi thẳng một mạch từ một trăm tới hai trăm bộ, tức chừng ba mươi tới sáu mươi mét. Có dòng lại đã khoét mình vô vách hẻm, rồi đổ xuống thành từng tầng thác nối nhau. Xa tít trên núi, những khe núi đầy băng hà, và những dòng băng ấy chìa ra như những ngón tay khổng lồ từ lớp tuyết phủ kín đỉnh cả dãy núi.

Bức tường bảo vệ làng được nối liền với vách của hẻm núi lớn, ở chỗ vách đó nhô ra đồng bằng, rồi chạy ra tới tận vách đá nơi nước đổ xuống thung lũng. Ở chỗ bức tường nối với vách hẻm, núi dựng đứng lên cao hai nghìn bộ, tức khoảng sáu trăm mét, tạo thành một bức thành thiên nhiên chạy xa tít tầm mắt. Người ta cho biết vùng cao nguyên bằng phẳng này trải dài sáu mươi dặm theo hướng đông tây, tức gần một trăm cây số, và có chỗ rộng ba mươi dặm theo hướng bắc nam, tức gần năm mươi cây số. Lối vào duy nhất khác là ở chỗ rộng nhất của cao nguyên, nơi có một con đường mòn vượt qua đèo, và con đèo đó cũng được canh giữ bằng một bức tường giống như bức tường ở chỗ chúng tôi.

Trong lúc chúng tôi đang bàn về cái lợi của vị trí này trong việc phòng thủ, thì chị của Emil và con gái bà lên với chúng tôi. Một lát sau, Emil, chồng của chị ông và người con trai cũng lên. Chúng tôi để ý thấy có một nỗi háo hức ngầm, và chị của Emil liền cho biết tối nay cả nhà đang chờ mẹ của họ tới thăm.

Bà nói: "Chúng tôi vui tới mức không kìm được, vì chúng tôi thương mẹ lắm. Chúng tôi thương rất nhiều tất cả những vị đã tiến lên những bậc chứng đắc cao hơn, vì các vị ấy cao quý, tốt đẹp và hay giúp đỡ biết bao. Nhưng mẹ của chúng tôi thì ngọt ngào, đáng yêu, hay giúp đỡ và giàu tình thương quá, nên chúng tôi không thể không thương bà hơn gấp ngàn lần. Vả lại, chúng tôi là máu thịt của bà. Tôi biết các anh rồi cũng sẽ thương bà như chúng tôi thôi."

Chúng tôi hỏi bà có hay tới không. Chị của Emil đáp: "Ồ có chứ, hễ chúng tôi cần là bà tới. Nhưng bà bận rộn với công việc của bà lắm, nên tự ý bà chỉ tới mỗi năm hai lần, và đây là một trong hai lần thăm đó. Lần này bà sẽ ở lại một tuần, cả nhà vui tới mức không biết phải làm gì nữa."

Tới đây câu chuyện chuyển sang những chuyện mà các bạn đồng hành đã trải qua trong thời gian hai nhóm xa nhau. Chúng tôi đang mải mê bàn tán, thì bỗng nhiên cả không gian lặng đi. Gần như chưa kịp nhận ra, chúng tôi đã ngồi hoàn toàn im lặng, mà không ai gợi ý gì cả. Bóng chiều đã dày tới mức lớp tuyết trên đỉnh núi xa trông như một con quái vật trắng khổng lồ, sắp buông những ngón tay băng giá vươn ra trùm xuống thung lũng bên dưới.

Từ trong im lặng vang lên một tiếng vút nhẹ, như tiếng một con chim đáp xuống, và hình như có một làn sương mỏng đang tụ lại trên bờ tường lan can phía đông. Làn sương bỗng thành hình, và đứng đó là một người phụ nữ, gương mặt và dáng người đẹp lạ lùng, quanh bà tỏa ra một thứ ánh sáng rực rỡ tới mức chúng tôi gần như không dám nhìn thẳng. Cả nhà đứng bật dậy, dang rộng hai tay bước nhanh về phía bà, gần như cùng một tiếng gọi: "Mẹ!" Bà nhẹ nhàng bước từ bờ tường xuống mái, ôm từng người, như bất cứ người mẹ thương con nào. Rồi bà được giới thiệu với chúng tôi.

Bà nói: "Ồ, đây là những người anh em thân thương từ nước Mỹ xa xôi tới thăm chúng tôi đây. Tôi thật mừng vui được đón các anh tới xứ sở của chúng tôi. Lòng chúng tôi hướng về tất cả mọi người, và chúng tôi thấy rằng nếu người ta chịu để cho chúng tôi làm, thì chúng tôi sẽ dang tay ôm hết mọi người, như tôi vừa ôm những người mà tôi gọi là con mình đây. Vì thật ra chúng ta là một gia đình, là con của một Thượng đế duy nhất vừa là Cha vừa là Mẹ. Sao tất cả chúng ta lại không thể gặp nhau như anh em?"

Ngay trước đó, chúng tôi vừa nói với nhau là buổi tối đã bắt đầu se lạnh. Vậy mà khi người phụ nữ này hiện ra, hơi ấm tỏa ra từ bà làm buổi tối như giữa mùa hè. Không khí như đượm hương hoa, một thứ ánh sáng như ánh trăng rằm như thấm vào mọi vật, và có một sự ấm áp, rạng rỡ bao trùm tất cả mà tôi không sao tả được. Vậy mà không hề có chút gì phô trương, chỉ có cái vẻ sâu lắng, giản dị, hiền hậu, hồn nhiên như trẻ thơ.

Có người đề nghị mọi người xuống nhà. Người mẹ cùng những người phụ nữ khác đi trước tới cầu thang, đoàn chúng tôi theo sau, và những người đàn ông trong nhà đi sau cùng. Lúc đó chúng tôi mới để ý rằng, tuy mình vẫn bước đi như thường, mà bàn chân không hề phát ra tiếng động nào trên mái hay trên cầu thang. Chúng tôi đâu có cố đi nhẹ. Thật ra, một người trong đoàn nói anh đã cố tình làm cho có tiếng động, mà không làm được. Tưởng như bàn chân chúng tôi không hề chạm vô mái hay vô bậc thang. Chúng tôi đi vô một căn phòng bày biện rất đẹp. Vừa vô và ngồi xuống, chúng tôi đã cảm thấy một sự ấm áp, rạng rỡ, và căn phòng tràn ngập một thứ ánh sáng dịu dàng mà không ai trong chúng tôi giải thích được.

Mọi người giữ im lặng sâu lắng một hồi. Rồi người mẹ hỏi chúng tôi ở có thoải mái không, có được lo lắng chu đáo không, và chuyến đi có vui không. Câu chuyện chuyển sang những đề tài thường ngày, và hình như chuyện gì bà cũng rành. Rồi câu chuyện chuyển sang đời sống gia đình của chúng tôi. Bà kể ra tên của cha, của mẹ, của anh chị em từng người, và chúng tôi kinh ngạc khi bà tả lại chi tiết đời sống của mỗi người mà không hỏi chúng tôi một câu nào. Bà kể những nước chúng tôi đã đi qua, những việc chúng tôi đã làm được, và những chỗ chúng tôi đã thất bại. Bà không kể mơ hồ để chúng tôi phải tự chắp nối, mà từng chi tiết hiện ra rõ ràng như thể chúng tôi đang sống lại những cảnh ấy một lần nữa.

Sau khi những người bạn chúc chúng tôi ngủ ngon, chúng tôi không khỏi kinh ngạc khi nghĩ lại: không ai trong số họ dưới một trăm tuổi, còn người mẹ đã hơn bảy trăm tuổi, trong đó sáu trăm năm bà sống trên mặt đất bằng thân xác của mình. Vậy mà ai nấy đều nhẹ nhõm, vui tươi như mới hai mươi, và không có gì là giả bộ cả. Cứ như thể chúng tôi đang ở giữa những người trẻ tuổi. Trước khi họ chia tay tối hôm đó, chúng tôi được báo rằng tối mai sẽ có một buổi tụ họp khá đông ở hội quán, và tất cả chúng tôi đều được mời tới dự.

Hết chương hai mươi.

Một ngôi làng sau ngọn thác, một người mẹ tới từ làn sương, và cái ấm của bà làm đêm se lạnh hóa thành mùa hè. Mình giữ lại câu bà hỏi: chúng ta vốn là một gia đình, sao lại không thể gặp nhau như anh em? Hẹn bạn ở chương hai mươi mốt nghen.