Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Sách Nói Tình Ca

Ông Già Bên Đám Đông Xem Làm Trò Ở Ấn Độ

Đây là Sách Nói Tình Ca. Mình đọc cho bạn nghe cuốn "Đời Sống Và Lời Dạy Của Các Chân Sư Viễn Đông", tập một, của ông Baird T. Spalding, một người Mỹ. Sách in lần đầu năm một nghìn chín trăm hai mươi bốn. Đây là bản dịch mới của Tình Ca, từ nguyên văn tiếng Anh. Người kể trong sách xưng "tôi". Mời bạn ngồi xuống, thả lỏng, và nghe chương một.

Chương một.

Đoàn chúng tôi đã ở Ấn Độ chừng hai năm, làm công việc nghiên cứu thường ngày, thì tôi gặp vị Chân sư mà trong những trang sách này tôi gọi là Emil.

Bữa đó tôi đang đi bộ trên một con đường trong thành phố chúng tôi trọ, thì thấy một đám đông túm tụm. Ở giữa là một ông làm trò ngoài đường, ở xứ đó người ta gọi là fakir, mấy ông pháp sư làm trò dạo, nhiều lắm. Tôi đứng lại xem. Rồi tôi để ý bên cạnh mình có một ông già, nhìn là biết không cùng đẳng cấp với mấy người xung quanh. Ông quay sang nhìn tôi, hỏi tôi ở Ấn Độ lâu chưa. Tôi nói: "Chừng hai năm." Ông hỏi: "Anh là người Anh hả?" Tôi trả lời: "Người Mỹ."

Tôi vừa ngạc nhiên vừa thích, vì gặp được một người nói tiếng Anh. Tôi hỏi ông nghĩ sao về màn biểu diễn trước mặt. Ông nói: "Ồ, chuyện thường ở Ấn Độ thôi. Mấy người này được gọi là fakir, là pháp sư, là người thôi miên. Họ đúng là như cái tên đó. Nhưng bên dưới tất cả, có một ý nghĩa tâm linh sâu hơn mà ít ai nhìn ra, và một ngày nào đó, điều tốt sẽ đến từ nó. Đây chỉ là cái bóng của một thứ mà nó sinh ra từ đó. Người ta bàn tán về nó nhiều lắm, mà hình như chưa ai chạm tới được cái ý nghĩa thật, vì chắc chắn bên dưới có một sự thật."

Tới đó thì chúng tôi chia tay. Bốn tháng sau đó, tôi chỉ thỉnh thoảng mới gặp lại ông.

Rồi đoàn chúng tôi gặp một chuyện rắc rối, làm cả đoàn lo lắng không ít. Đang lúc rối ruột, tôi lại gặp Emil. Vừa gặp, ông đã hỏi tôi đang bận lòng chuyện gì, rồi nói luôn về đúng cái chuyện của chúng tôi.

Tôi lấy làm lạ. Vì tôi chắc là không ai trong đoàn nói chuyện đó ra ngoài cái vòng nhỏ của mình. Vậy mà ông nắm rõ tình hình tới mức tôi có cảm giác chuyện gì ông cũng biết hết. Ông nói ông có một chút hiểu biết về chuyện này, và ông sẽ ráng giúp.

Chỉ một hai ngày sau, chuyện được gỡ xong, chúng tôi hết còn gì phải lo. Cả đoàn cũng thấy lạ, nhưng còn bao nhiêu việc khác, rồi cũng quên đi.

Về sau, mỗi lần có chuyện khó, tôi lại quen miệng đem ra nói với Emil. Mà hình như hễ tôi nói với ông xong, thì cái chuyện khó đó tự nhiên không còn nữa.

Mấy người bạn trong đoàn cũng có gặp, có nói chuyện với Emil, nhưng tôi ít kể với họ về ông. Lúc đó tôi đã đọc được kha khá sách về minh triết Ấn Độ, sách do chính Emil chọn cho, và tôi tin chắc ông là một bậc đạt đạo. Tôi tò mò lắm, ngày càng muốn biết thêm.

Một buổi chiều Chủ nhật, Emil với tôi đang đi dạo ngoài cánh đồng, thì ông chỉ cho tôi một con chim bồ câu đang lượn vòng trên đầu. Ông nói nhẹ tênh, như chuyện thường: con chim đang đi tìm ông. Ông đứng yên, không nhúc nhích. Một lát sau, con chim đáp xuống, đậu trên cánh tay ông đang đưa ra. Ông nói con chim mang tin của một người anh em ở phương Bắc. Sau này tôi mới biết đó là một người cùng tu, chưa đạt tới mức có thể liên lạc trực tiếp, nên phải nhờ cách này. Về sau chúng tôi còn biết, các Chân sư có thể truyền tin cho nhau ngay tức khắc bằng ý nghĩ, hay theo cách họ nói, bằng một thứ lực tinh tế hơn cả điện, hơn cả sóng vô tuyến.

Từ đó tôi bắt đầu hỏi. Và Emil cho tôi thấy, ông có thể gọi chim bay tới, có thể chỉ đường bay cho chúng ngay khi chúng đang ở trên trời. Cây cỏ, bông hoa như nghiêng mình chào ông. Thú hoang tới gần ông mà không sợ hãi gì. Có lần, hai con chó rừng đang giành nhau xác một con thú nhỏ chúng vừa giết. Ông bước tới. Hai con thôi cắn nhau, đưa đầu vô hai bàn tay ông đang chìa ra, tin cậy hoàn toàn, rồi quay lại ăn tiếp, yên lặng. Ông còn đưa cho tôi bế một con thú hoang nhỏ.

Rồi ông nói với tôi: "Không phải cái tôi phàm trần, cái tôi mà anh đang thấy đây, làm được những chuyện này. Mà là một cái tôi thật hơn, sâu hơn. Đó là cái mà anh gọi là Thượng đế, Thượng đế ở trong tôi, Đấng Toàn Năng làm việc qua tôi. Tự mình, cái tôi phàm trần này, không làm được gì hết. Chỉ khi tôi buông hẳn cái bên ngoài, để cho cái thật, cái Ta Là, lên tiếng và làm việc, để cho Tình Thương lớn lao của Thượng đế tuôn ra, thì tôi mới làm được những gì anh vừa thấy. Khi anh để Tình Thương ấy chảy qua mình tới mọi vật, thì không gì sợ anh, và không điều dữ nào chạm được tới anh."

Suốt thời gian đó, ngày nào tôi cũng học với Emil. Nhiều khi ông hiện ra ngay trong phòng tôi, dù trước khi ngủ tôi đã cẩn thận khóa cửa. Lúc đầu, cái chuyện ông muốn tới là tới làm tôi bối rối lắm. Nhưng rồi tôi thấy ông coi như tôi đã hiểu chuyện đó là bình thường. Tôi quen dần, và để cửa mở luôn, cho ông ra vô tùy ý. Hình như ông vui vì được tin cậy như vậy.

Tôi không hiểu hết những gì ông dạy, cũng không chấp nhận được hết. Mà với tất cả những gì tôi thấy ở phương Đông, lúc đó tôi cũng chưa thể tin trọn. Phải mất nhiều năm ngồi chiêm nghiệm, tôi mới thấm được cái ý nghĩa tâm linh sâu xa trong đời sống của những con người này.

Họ làm mọi việc mà không phô trương, giản dị như trẻ thơ. Họ biết sức mạnh của tình thương có thể che chở cho họ, và họ vun bồi nó, cho tới khi cả thiên nhiên cũng thương họ, làm bạn với họ. Mỗi năm có hàng ngàn người dân thường bị rắn và thú dữ giết chết. Vậy mà các Chân sư đã khơi lên được sức mạnh của tình thương trong mình tới mức rắn rết, thú dữ không hại tới họ. Có lúc họ sống giữa những khu rừng hoang dã nhất. Có lúc họ nằm xuống trước một ngôi làng để che chở cho làng khỏi thú dữ phá phách, và cả làng lẫn họ đều bình yên. Khi cần, họ đi trên mặt nước, đi qua lửa, đi lại mà không ai thấy, và làm nhiều chuyện khác mà xưa nay chúng ta quen coi là phép lạ, chỉ những người có quyền năng siêu nhiên mới làm được.

Đời sống và lời dạy của các Chân sư, thể hiện qua từng ngày sống của họ, giống một cách lạ lùng với đời sống và lời dạy của Chúa Giê-su thành Nazareth. Người ta vẫn nghĩ con người không thể nào nhận những thứ mình cần mỗi ngày trực tiếp từ Vũ trụ, không thể vượt qua cái chết, không thể làm những điều gọi là phép lạ mà Chúa Giê-su đã làm khi còn ở thế gian. Các Chân sư cho thấy những điều đó chính là đời sống hằng ngày của họ. Mọi thứ họ cần, từ cái ăn, cái mặc tới tiền bạc, họ nhận thẳng từ Vũ trụ. Họ vượt qua cái chết tới mức nhiều vị đang sống đã hơn năm trăm tuổi, theo như sổ sách của họ ghi lại rõ ràng.

Ở Ấn Độ, số Chân sư như vậy không nhiều. Những giáo phái khác hình như chỉ là nhánh rẽ từ lời dạy của họ. Họ biết số người của mình ít ỏi, và chỉ vài người học trò tìm tới được với họ. Nhưng trong cõi vô hình, họ có thể chạm tới gần như vô số người. Và có vẻ như việc lớn nhất trong đời họ là vươn ra cõi vô hình đó, giúp tất cả những ai sẵn lòng đón nhận lời dạy của họ.

Những lời dạy của Emil đã đặt nền cho công việc mà nhiều năm sau chúng tôi mới bắt tay vào, trong chuyến thám hiểm thứ ba tới những xứ này. Lần đó, chúng tôi sống liên tục bên các Chân sư suốt ba năm rưỡi, đi cùng họ, và chứng kiến đời sống, công việc hằng ngày của họ khắp vùng Viễn Đông.

Hết chương một.

Đó là lời ông Spalding viết gần một trăm năm trước. Bạn tin tới đâu thì nhận tới đó, chính ông cũng nói vậy ở đầu sách: người đọc có thể nhận, hoặc không. Mình chỉ mong, trong những điều ông kể, bạn giữ lại được một câu thôi: khi để tình thương chảy qua mình tới mọi vật, thì không gì phải sợ mình. Hẹn bạn ở chương hai nghen.