Tình Ca kể chuyện · Siddhartha
Con Chim Hót Nhỏ Trong Chiếc Lồng Vàng
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Siddhartha" của nhà văn Hermann Hesse. Chương trước, Siddhartha ở lại thành phố, học buôn bán bên thương gia Kamaswami và học chuyện yêu đương bên nàng Kamala. Mời bạn nghe chương bảy: Luân hồi.
Đã lâu lắm rồi, Siddhartha sống cuộc đời của thế gian và của dục lạc, dù không thuộc về nó. Các giác quan của chàng, những thứ chàng đã giết đi trong những năm nóng bỏng làm Sa-môn, nay đã thức dậy trở lại; chàng đã nếm sự giàu sang, đã nếm dục lạc, đã nếm quyền lực; vậy mà trong lòng, suốt một thời gian dài, chàng vẫn còn là một Sa-môn. Kamala vốn thông minh, đã nhận ra điều đó rất đúng. Vẫn là nghệ thuật suy nghĩ, chờ đợi, nhịn đói dẫn dắt đời chàng; những người của thế gian, những con người như trẻ nhỏ, vẫn xa lạ với chàng, cũng như chàng xa lạ với họ.
Năm tháng trôi qua; sống giữa đời sung túc, Siddhartha hầu như không thấy chúng phai đi. Chàng đã trở nên giàu có, từ lâu đã có nhà riêng, người hầu riêng, và một khu vườn ở ngoài thành, bên bờ sông. Người ta quý chàng, họ tìm tới chàng mỗi khi cần tiền hay cần lời khuyên, nhưng không có ai gần gũi với chàng, ngoài Kamala.
Cái trạng thái tỉnh thức cao vời, sáng rỡ mà chàng đã một lần nếm trải giữa độ đẹp nhất của tuổi trẻ, trong những ngày sau bài giảng của Gotama, sau khi chia tay Govinda, cái chờ đợi căng đầy ấy, cái kiêu hãnh đứng một mình không giáo lý, không thầy dạy ấy, cái sẵn lòng mềm mại lắng nghe tiếng nói thiêng liêng trong chính trái tim mình ấy, đã chậm chậm trở thành một ký ức, đã thoáng qua mất. Xa xôi và lặng lẽ, dòng suối thiêng vẫn rì rầm, dòng suối từng ở gần, từng rì rầm ngay bên trong chàng. Tuy vậy, nhiều điều chàng đã học từ các Sa-môn, đã học từ Gotama, đã học từ người cha Bà-la-môn của mình, vẫn còn ở lại trong chàng một thời gian dài sau đó: sống điều độ, niềm vui suy tưởng, những giờ thiền định, sự hiểu biết thầm kín về tự ngã, về bản thể đời đời của mình, thứ không phải thân xác mà cũng không phải ý thức. Nhiều phần trong số đó chàng vẫn còn giữ, nhưng hết phần này tới phần khác đã chìm xuống và phủ bụi. Cũng như bàn xoay của người thợ gốm, một khi đã quay, sẽ còn quay mãi một lúc lâu, rồi chỉ chậm chậm mới yếu sức đi và dừng lại, linh hồn Siddhartha cũng đã quay mãi bánh xe khổ hạnh, bánh xe suy tưởng, bánh xe phân biệt trong một thời gian dài, vẫn còn quay, nhưng quay chậm và ngập ngừng, và đã gần tới lúc đứng yên. Chậm chậm, như hơi ẩm thấm vào thân một cái cây đang chết, chậm chậm lấp đầy nó và làm nó mục ra, thế gian và sự biếng nhác đã thấm vào linh hồn Siddhartha, chậm chậm lấp đầy linh hồn chàng, làm nó nặng nề, làm nó mỏi mệt, ru nó vào giấc ngủ. Mặt khác, các giác quan của chàng đã trở nên sống động; chúng đã học được nhiều, đã trải qua nhiều.
Siddhartha đã học buôn bán, học dùng quyền lực của mình với người khác, học vui thú với đàn bà; chàng đã học mặc áo quần đẹp, học sai bảo người hầu, học tắm trong nước ướp hương. Chàng đã học ăn những món được nấu nướng khéo léo, kỹ lưỡng, cả cá, cả thịt và gà vịt, gia vị và đồ ngọt, và học uống rượu, thứ khiến người ta biếng nhác và quên lãng. Chàng đã học chơi xúc xắc và chơi cờ, học ngắm các vũ nữ, học ngồi kiệu cho người ta khiêng đi đây đi đó, học ngủ trên giường êm. Nhưng chàng vẫn cảm thấy mình khác người, và hơn người; lúc nào chàng cũng nhìn họ với chút giễu cợt, chút khinh khi giễu cợt, cũng chính sự khinh khi mà một Sa-môn luôn cảm thấy với người đời. Khi Kamaswami đau ốm, khi ông bực bội, khi ông thấy mình bị xúc phạm, khi ông bị những nỗi lo của nhà buôn làm cho phiền muộn, Siddhartha lúc nào cũng đứng nhìn với vẻ giễu cợt. Chỉ chậm chậm và không hay biết, theo những mùa gặt và những mùa mưa trôi qua, sự giễu cợt của chàng mỏi mệt dần, cái vẻ hơn người của chàng lặng dần. Chỉ chậm chậm, giữa của cải ngày một nhiều, Siddhartha đã nhiễm cho mình đôi chút lối sống của những con người như trẻ nhỏ, đôi chút tính trẻ con và tính hay sợ hãi của họ. Thế mà chàng lại ganh tị với họ, càng giống họ bao nhiêu, càng ganh tị với họ bấy nhiêu. Chàng ganh tị với họ vì một điều duy nhất mà chàng thiếu còn họ thì có: cái tầm quan trọng mà họ biết đặt vào đời mình, cái nồng nhiệt trong niềm vui và nỗi sợ của họ, cái hạnh phúc đầy lo âu mà ngọt ngào của việc lúc nào cũng đang yêu. Những người này lúc nào cũng đang yêu, yêu chính mình, yêu đàn bà, yêu con cái, yêu danh vọng hay tiền bạc, yêu những dự tính hay những hy vọng. Nhưng chàng không học được điều đó từ họ, đúng điều đó, niềm vui của trẻ thơ và sự dại khờ của trẻ thơ ấy; chàng lại học từ họ đúng những điều khó chịu, những điều chính chàng khinh ghét. Càng ngày càng hay xảy ra chuyện, vào buổi sáng sau một đêm tiệc tùng, chàng nằm lì trên giường thật lâu, thấy mình không suy nghĩ nổi, và mệt mỏi. Có những lúc chàng nổi giận và mất kiên nhẫn khi Kamaswami làm chàng chán ngấy với những nỗi lo của ông. Có những lúc chàng cười to quá mức khi thua một ván xúc xắc. Gương mặt chàng vẫn thông minh hơn và có hồn hơn những người khác, nhưng hiếm khi cười, và lần lượt mang lấy những nét thường thấy trên mặt những người giàu: nét bất mãn, nét ốm yếu, nét cau có, nét biếng nhác, nét thiếu tình thương. Chậm chậm, căn bệnh của linh hồn, căn bệnh mà người giàu mắc phải, đã nắm lấy chàng.
Như một tấm màn, như một làn sương mỏng, sự mỏi mệt phủ xuống Siddhartha, chậm chậm, mỗi ngày dày thêm một chút, mỗi tháng đục thêm một chút, mỗi năm nặng thêm một chút. Như một tấm áo mới, theo thời gian sẽ cũ đi, theo thời gian sẽ phai màu đẹp, sẽ dính vết bẩn, sẽ nhăn nhúm, sẽ sờn ở đường may, và bắt đầu lộ ra những chỗ mòn xơ chỗ này chỗ kia, cuộc đời mới của Siddhartha, cuộc đời chàng bắt đầu sau khi chia tay Govinda, cũng đã già đi, đã mất màu sắc và vẻ rực rỡ theo năm tháng trôi qua, đã gom lấy nếp nhăn và vết bẩn; và nấp ở tận đáy, đã lộ vẻ xấu xí chỗ này chỗ kia, nỗi thất vọng và nỗi ghê chán đang chờ sẵn. Siddhartha không nhận ra điều đó. Chàng chỉ nhận ra rằng tiếng nói sáng trong và đáng tin cậy bên trong mình, tiếng nói đã thức dậy trong chàng thuở ấy và đã luôn dẫn dắt chàng trong những lúc tốt đẹp nhất, nay đã im bặt.
Chàng đã bị thế gian bắt giữ, bị dục lạc, bị lòng thèm muốn, bị sự biếng nhác, và sau cùng bị cả cái thói xấu mà xưa kia chàng khinh bỉ và chế giễu nhất, coi là thói ngu dại nhất trong mọi thói xấu: lòng tham. Tài sản, của cải và giàu sang cuối cùng cũng đã bắt giữ chàng; với chàng, chúng không còn là trò chơi và chuyện vặt nữa, mà đã thành xiềng xích và gánh nặng. Theo một con đường lạ lùng và quanh co, Siddhartha đã sa vào sự lệ thuộc sau cùng và thấp hèn nhất ấy, qua trò chơi xúc xắc. Chính từ lúc chàng thôi là một Sa-môn trong lòng, Siddhartha bắt đầu chơi ăn tiền và ăn những vật quý, với cơn hăng máu và niềm say mê mỗi lúc một tăng, cái trò mà trước kia chàng chỉ góp vui với một nụ cười, hờ hững, như một thói quen của những con người như trẻ nhỏ. Chàng là một tay cờ bạc đáng sợ, ít ai dám chơi với chàng, vì chàng đặt cược cao và liều lĩnh quá. Chàng chơi vì một nỗi đau trong lòng. Thua và phung phí đồng tiền khốn khổ của mình trong cuộc chơi đem lại cho chàng một niềm vui giận dữ; không có cách nào khác để chàng bày tỏ sự khinh bỉ của mình với của cải, vị thần giả của bọn nhà buôn, rõ ràng hơn và giễu cợt hơn. Vậy là chàng đánh bạc với tiền cược cao, không chút nương tay, ghét chính mình, chế giễu chính mình, thắng hàng nghìn, ném đi hàng nghìn, thua tiền, thua đồ trang sức, thua một ngôi nhà ở thôn quê, lại thắng, lại thua. Nỗi sợ ấy, nỗi sợ khủng khiếp làm người ta chết điếng ấy, mà chàng cảm thấy trong lúc gieo xúc xắc, trong lúc lo mất những món cược lớn, nỗi sợ ấy chàng yêu, và tìm cách luôn làm nó mới lại, luôn làm nó tăng lên, luôn đẩy nó lên cao thêm một chút, vì chỉ trong cảm giác này chàng mới còn thấy một cái gì giống như hạnh phúc, một cái gì giống như cơn say, một cái gì giống như một dạng sống cao hơn, giữa cuộc đời no nê, âm ấm, nhạt nhẽo của chàng.
Và sau mỗi lần thua lớn, tâm trí chàng lại hướng về những của cải mới; chàng theo đuổi việc buôn bán hăng hái hơn, ép con nợ trả tiền gắt gao hơn, vì chàng muốn tiếp tục đánh bạc, muốn tiếp tục phung phí, tiếp tục bày tỏ sự khinh bỉ của mình với của cải. Siddhartha mất sự điềm tĩnh khi thua lỗ, mất kiên nhẫn khi không được trả tiền đúng hạn, mất lòng tốt với kẻ ăn xin, mất cái tính sẵn lòng cho đi và cho vay tiền những ai tới cầu xin chàng. Chàng, người có thể thua hàng chục nghìn trong một lần gieo xúc xắc mà vẫn cười, lại trở nên khắt khe hơn và nhỏ nhen hơn trong việc làm ăn, có những đêm còn nằm mơ thấy tiền! Và mỗi lần chàng tỉnh ra khỏi cơn mê xấu xí này, mỗi lần chàng thấy gương mặt mình trong tấm gương trên vách phòng ngủ đã già đi và xấu đi, mỗi lần nỗi hổ thẹn và nỗi ghê chán ập tới, chàng lại tiếp tục chạy trốn, chạy trốn vào một ván bài mới, chạy trốn vào cơn mê mụ của tâm trí do nhục dục, do rượu mang lại, và từ đó chàng lại chạy về với cơn thôi thúc tích góp và chiếm hữu của cải. Trong cái vòng quẩn vô nghĩa này chàng cứ chạy, mỏi mệt dần, già đi dần, ốm yếu dần.
Rồi tới lúc một giấc mơ cảnh báo chàng. Chàng đã ở bên Kamala suốt buổi chiều tối, trong khu vườn hoan lạc xinh đẹp của nàng. Hai người ngồi dưới những tán cây, trò chuyện, và Kamala đã nói những lời trầm ngâm, những lời mà phía sau ẩn giấu một nỗi buồn và một sự mỏi mệt. Nàng đã xin chàng kể về Gotama, và nghe mãi không chán: đôi mắt Ngài trong sáng thế nào, miệng Ngài lặng lẽ và đẹp thế nào, nụ cười Ngài hiền từ thế nào, bước đi Ngài an hòa thế nào. Chàng phải kể cho nàng nghe về Đức Phật cao cả thật lâu, và Kamala đã thở dài mà nói: "Một ngày kia, có lẽ chẳng bao lâu nữa, em cũng sẽ đi theo Đức Phật ấy. Em sẽ dâng Ngài khu vườn hoan lạc của em, và nương náu nơi giáo pháp của Ngài." Nhưng sau đó, nàng đã khơi dậy dục vọng nơi chàng, và đã buộc chặt chàng vào mình trong cuộc ân ái, với một nỗi cuồng nhiệt đau đớn, vừa cắn vừa khóc, như thể nàng muốn vắt thêm một lần nữa giọt ngọt ngào cuối cùng ra khỏi niềm hoan lạc hão huyền, chóng tàn này. Chưa bao giờ Siddhartha thấy rõ một cách lạ lùng như vậy, rằng dục lạc gần gũi với cái chết biết bao. Rồi chàng nằm bên nàng, gương mặt Kamala ở sát bên chàng, và dưới đôi mắt nàng, bên khóe miệng nàng, chàng đã đọc thấy, rõ hơn bao giờ hết, một dòng chữ đáng sợ, một dòng chữ viết bằng những đường nhỏ, những rãnh mờ, một dòng chữ gợi nhớ mùa thu và tuổi già, cũng như chính Siddhartha, mới ngoài bốn mươi, đã thấy đây đó vài sợi tóc bạc lẫn trong mái tóc đen. Sự mỏi mệt đã hằn trên gương mặt đẹp của Kamala, mỏi mệt vì đã đi một con đường dài không dẫn tới đâu hạnh phúc, mỏi mệt và bắt đầu tàn héo, và một nỗi lo âu giấu kín, chưa nói ra, có lẽ chưa cả ý thức được: nỗi sợ tuổi già, nỗi sợ mùa thu, nỗi sợ phải chết. Thở dài, chàng từ biệt nàng, lòng đầy miễn cưỡng, và đầy một nỗi lo âu giấu kín.
Rồi Siddhartha qua đêm trong nhà mình với các vũ nữ và rượu, làm ra vẻ mình hơn những người cùng đẳng cấp, dù điều đó không còn đúng nữa. Chàng uống nhiều rượu, và đi ngủ rất lâu sau nửa đêm, mệt mỏi mà vẫn bứt rứt, gần như muốn khóc, gần như tuyệt vọng, và đã cố ngủ thật lâu mà không được, lòng đầy nỗi khốn khổ mà chàng nghĩ mình không thể chịu đựng thêm được nữa, đầy một nỗi ghê chán mà chàng cảm thấy thấm khắp thân thể, như vị rượu âm ấm, khó chịu, như tiếng nhạc ngọt quá, đều đều, như nụ cười mềm quá của các vũ nữ, như mùi hương ngọt quá trên tóc và trên ngực họ. Nhưng hơn hết thảy, chàng ghê chán chính mình, ghê chán mái tóc ướp hương của mình, mùi rượu trong miệng mình, cái mỏi mệt nhão nhoẹt và vẻ uể oải của làn da mình. Như khi một người đã ăn uống quá nhiều, nôn tất cả ra trong cơn đau quặn thắt mà vẫn mừng vì nhẹ người, người đàn ông mất ngủ này cũng mong được giải thoát khỏi những thú vui này, những thói quen này, khỏi cả cuộc đời vô nghĩa này và khỏi chính mình, trong một cơn ghê chán dâng lên mênh mông. Mãi tới khi ánh sáng ban mai lên, và những sinh hoạt đầu tiên bắt đầu trên con đường trước ngôi nhà của chàng trong thành, chàng mới thiếp đi một chút, mới tìm được trong chốc lát một trạng thái nửa mê, một chút gì như giấc ngủ. Trong chốc lát ấy, chàng nằm mơ.
Kamala có một con chim hót nhỏ, hiếm có, nhốt trong một chiếc lồng vàng. Chàng mơ thấy con chim này. Chàng mơ: con chim đã câm lặng, con chim xưa nay sáng nào cũng hót, và vì điều đó làm chàng chú ý, chàng bước tới trước chiếc lồng mà nhìn vào trong; ở đó con chim nhỏ đã chết, nằm cứng đơ dưới đáy lồng. Chàng lấy nó ra, cầm nó trên tay một lúc như để cân, rồi ném nó đi, ra ngoài đường, và cùng lúc ấy, chàng thấy bàng hoàng ghê gớm, và tim chàng đau nhói, như thể khi ném con chim chết này đi, chàng đã ném khỏi mình mọi giá trị và mọi điều tốt đẹp.
Giật mình tỉnh dậy sau giấc mơ, chàng thấy mình bị bao trùm trong một nỗi buồn sâu thẳm. Vô giá trị, chàng thấy như vậy, vô giá trị và vô nghĩa là con đường chàng đã đi qua cuộc đời; chẳng có gì còn sống, chẳng có gì ngon lành hay đáng giữ còn lại trong tay chàng. Chàng đứng đó một mình, trống rỗng, như một người đắm tàu dạt lên bờ.
Lòng u ám, Siddhartha đi tới khu vườn hoan lạc của mình, khóa cổng lại, ngồi xuống dưới một cây xoài, cảm thấy cái chết trong tim và nỗi kinh hoàng trong lồng ngực. Chàng ngồi đó, cảm nhận mọi thứ trong mình đang chết đi, đang héo đi, đang tới hồi kết thúc. Dần dần, chàng gom lại các ý nghĩ, và trong tâm trí, chàng đi lại một lần nữa cả con đường đời mình, bắt đầu từ những ngày đầu tiên chàng còn nhớ được. Có bao giờ chàng đã nếm được hạnh phúc, đã cảm thấy một niềm phúc lạc thật sự? Ồ có chứ, nhiều lần chàng đã nếm trải điều ấy. Hồi còn là một cậu bé, chàng đã được nếm qua, khi được các vị Bà-la-môn khen ngợi, chàng đã cảm thấy trong lòng: "Có một con đường đang mở ra trước người đã nổi bật trong việc tụng đọc những câu kệ thiêng, trong việc tranh luận với các bậc thông thái, trong việc phụ giúp các lễ cúng tế." Rồi chàng lại cảm thấy trong lòng: "Có một con đường đang mở ra trước mặt con, con được định sẵn cho nó, các vị thần đang chờ con." Và một lần nữa, khi là một chàng trai trẻ, khi cái đích của mọi suy tưởng, cái đích cứ mãi vươn lên, cứ mãi vụt bay lên cao, đã giật chàng ra khỏi và nâng chàng lên trên đám đông những người cùng tìm cái đích ấy, khi chàng vật lộn trong đau đớn để hiểu Brahman, khi mỗi hiểu biết có được chỉ nhóm lên trong chàng một cơn khát mới, thì một lần nữa, giữa cơn khát, giữa nỗi đau, chàng đã cảm thấy chính điều ấy: "Đi tiếp! Đi tiếp! Con đã được gọi!" Chàng đã nghe tiếng nói này khi rời nhà và chọn đời Sa-môn, rồi lại nghe khi rời các Sa-môn để tìm tới Đấng Toàn Thiện kia, và cả khi rời Ngài mà đi vào chốn bất định. Đã bao lâu rồi chàng không còn nghe tiếng nói này nữa, đã bao lâu rồi chàng không còn chạm tới một đỉnh cao nào nữa, con đường của chàng qua cuộc đời đã phẳng lặng và tẻ nhạt biết bao, suốt bao nhiêu năm dài, không một mục đích cao xa, không cơn khát, không vươn lên, bằng lòng với những thú vui dục lạc nhỏ nhoi mà vẫn chẳng bao giờ thấy đủ! Suốt bao nhiêu năm ấy, mà chính chàng không hay biết, chàng đã gắng sức và khao khát trở thành một người như bao người kia, như những đứa trẻ kia, và trong tất cả những điều đó, đời chàng còn khốn khổ hơn và nghèo nàn hơn đời họ nhiều, vì mục đích của họ không phải của chàng, nỗi lo của họ cũng không; rốt cuộc, cả thế giới của những con người kiểu Kamaswami ấy với chàng chỉ là một trò chơi, một điệu múa để chàng ngồi xem, một vở hài kịch. Chỉ có Kamala là thân thương, là quý giá với chàng. Nhưng nàng có còn như vậy không? Chàng có còn cần nàng, hay nàng có còn cần chàng? Chẳng phải họ đang chơi một trò chơi không có hồi kết sao? Có cần phải sống vì điều này không? Không, không cần! Tên của trò chơi này là Luân hồi, là Sansara, một trò chơi của trẻ con, một trò chơi có lẽ chơi một lần, hai lần, mười lần thì cũng thú vị. Nhưng chơi mãi, chơi mãi, cứ lặp đi lặp lại không thôi sao?
Lúc ấy, Siddhartha biết rằng trò chơi đã hết, rằng chàng không thể chơi nữa. Những cơn rùng mình chạy khắp người chàng; bên trong chàng, chàng cảm thấy như vậy, có một cái gì đó đã chết.
Suốt ngày hôm ấy, chàng ngồi dưới gốc xoài, nghĩ tới cha mình, nghĩ tới Govinda, nghĩ tới Gotama. Có phải chàng đã phải rời bỏ họ để trở thành một Kamaswami? Chàng vẫn còn ngồi đó khi màn đêm buông xuống. Khi ngẩng lên, nhìn thấy những vì sao, chàng nghĩ: "Đây, ta đang ngồi dưới cây xoài của ta, trong khu vườn hoan lạc của ta." Chàng mỉm cười một chút. Có thật cần thiết không, có đúng không, hay chẳng phải đó cũng là một trò chơi dại dột, chuyện chàng làm chủ một cây xoài, làm chủ một khu vườn?
Chàng cũng chấm dứt điều này, điều này cũng chết đi trong chàng. Chàng đứng dậy, từ biệt cây xoài, từ biệt khu vườn hoan lạc. Vì cả ngày hôm ấy chưa ăn gì, chàng thấy đói cồn cào, và nghĩ tới ngôi nhà của mình trong thành, tới căn phòng và chiếc giường, tới chiếc bàn bày sẵn thức ăn. Chàng mỉm cười mệt mỏi, lắc mình một cái, rồi từ biệt những thứ ấy.
Ngay trong giờ ấy của đêm, Siddhartha rời khu vườn, rời thành phố, và không bao giờ trở lại. Một thời gian dài, Kamaswami cho người đi tìm chàng, nghĩ rằng chàng đã rơi vào tay bọn cướp. Kamala thì không cho ai đi tìm. Khi người ta báo với nàng rằng Siddhartha đã biến mất, nàng không ngạc nhiên. Chẳng phải nàng vẫn luôn chờ chuyện này sao? Chẳng phải chàng là một Sa-môn, một người không ở đâu là nhà, một kẻ hành hương sao? Và hơn hết, nàng đã cảm thấy điều này trong lần cuối cùng hai người ở bên nhau. Và nàng mừng, bất chấp mọi nỗi đau mất mát, rằng lần cuối cùng ấy nàng đã kéo chàng vào lòng mình thật âu yếm, rằng nàng đã cảm thấy thêm một lần nữa mình được chàng chiếm lấy và thấm đẫm tới như vậy.
Khi nhận được tin đầu tiên về việc Siddhartha biến mất, nàng đi tới bên cửa sổ, nơi nàng nhốt một con chim hót hiếm có trong chiếc lồng vàng. Nàng mở cửa lồng, bắt con chim ra và thả cho nó bay đi. Nàng nhìn theo nó thật lâu, con chim đang bay ấy. Từ hôm ấy, nàng không tiếp khách nữa, và đóng kín cửa nhà. Nhưng ít lâu sau, nàng biết mình đã mang thai, từ lần cuối cùng ở bên Siddhartha.
Hết chương bảy.
Mình cứ nhớ hoài hình ảnh Kamala mở cửa chiếc lồng vàng, bắt con chim ra, rồi đứng bên cửa sổ nhìn theo nó bay đi thật lâu. Có những thứ mình giữ kỹ quá, tới mức quên rằng nó vốn biết bay. Hẹn bạn ở chương tám nghen.