Tình Ca kể chuyện · Siddhartha
Con Diệc Bay Qua Rừng Tre
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Siddhartha" của nhà văn Hermann Hesse. Ở chương trước, Siddhartha đứng suốt một đêm trong phòng cha cho tới khi được phép ra đi, và Govinda đã đợi sẵn bên túp lều cuối thị trấn để đi cùng. Mời bạn nghe chương hai: Cùng các Sa-môn.
Chiều tối hôm ấy, họ đuổi kịp những người khổ hạnh, những Sa-môn gầy guộc, và xin được làm bạn đồng hành, và xin cả sự vâng phục của mình. Họ được nhận.
Siddhartha đem quần áo của mình cho một người Bà-la-môn nghèo ngoài đường. Chàng không mặc gì ngoài chiếc khố và tấm áo choàng màu đất, không khâu. Chàng mỗi ngày chỉ ăn một lần, và không bao giờ ăn đồ nấu chín. Chàng nhịn ăn mười lăm ngày. Chàng nhịn ăn hai mươi tám ngày. Thịt da trên đùi và trên má chàng tiêu dần. Những giấc mơ cuồng sốt chập chờn trong đôi mắt mở to của chàng, những chiếc móng dài chậm chạp mọc ra trên những ngón tay khô khốc, và một bộ râu khô, rậm rạp mọc trên cằm. Ánh nhìn của chàng hóa băng giá khi gặp phụ nữ; miệng chàng giật lên khinh bỉ khi chàng đi qua một thành phố đầy người ăn mặc đẹp đẽ. Chàng thấy những thương nhân buôn bán, những ông hoàng đi săn, những người để tang khóc than người chết, những gái điếm mời chào thân xác, những thầy thuốc cố cứu người bệnh, những thầy tế định ngày tốt nhất để gieo hạt, những người yêu nhau đang yêu, những người mẹ cho con bú, và tất cả những điều ấy không đáng để mắt chàng nhìn tới một lần, tất cả đều dối trá, tất cả đều hôi hám, tất cả đều nồng mùi dối trá, tất cả đều làm ra vẻ có ý nghĩa, có niềm vui, có cái đẹp, mà tất cả chỉ là sự thối rữa được che đậy. Thế gian có vị đắng. Cuộc sống là cực hình.
Trước mặt Siddhartha có một mục đích, một mục đích duy nhất: trở nên trống rỗng, trống cơn khát, trống ước muốn, trống những giấc mơ, trống cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Chết đi với chính mình, không còn là một bản ngã nữa, tìm sự tĩnh lặng với một trái tim đã trút rỗng, mở lòng đón những điều kỳ diệu trong những ý nghĩ vô ngã, đó là mục đích của chàng. Một khi toàn bộ bản ngã của tôi đã bị chế ngự và đã chết, một khi mọi ham muốn và mọi thôi thúc đều im lặng trong tim, thì cái phần tận cùng trong tôi ắt phải thức dậy, cái phần sâu kín nhất của con người tôi, cái không còn là bản ngã của tôi nữa, bí mật lớn lao.
Lặng lẽ, Siddhartha phơi mình dưới những tia nắng thiêu đốt ngay trên đỉnh đầu, rực lên vì đau, rực lên vì khát, và đứng đó, cho tới khi chàng không còn thấy đau, cũng không còn thấy khát nữa. Lặng lẽ, chàng đứng đó trong mùa mưa, nước từ tóc chàng nhỏ xuống đôi vai lạnh cóng, xuống đôi hông và đôi chân lạnh cóng, và người sám hối đứng đó, cho tới khi chàng không còn cảm thấy cái lạnh ở vai và chân nữa, cho tới khi chúng im lặng, cho tới khi chúng yên. Lặng lẽ, chàng thu mình trong những bụi gai, máu nhỏ giọt từ làn da rát bỏng, mủ nhỏ giọt từ những vết thương mưng mủ, và Siddhartha vẫn ngồi cứng đờ, vẫn bất động, cho tới khi máu không chảy nữa, cho tới khi không còn gì châm chích nữa, cho tới khi không còn gì bỏng rát nữa.
Siddhartha ngồi thẳng lưng và học cách thở thật ít, học cách sống chỉ với vài hơi thở, học cách ngừng thở. Chàng học, bắt đầu từ hơi thở, cách làm dịu nhịp đập của tim, học cách làm cho tim đập thưa dần, cho tới khi chỉ còn vài nhịp, và gần như không còn nhịp nào.
Được người già nhất trong các Sa-môn chỉ dạy, Siddhartha tập từ bỏ bản thân, tập thiền định, theo đúng giới luật của Sa-môn. Một con diệc bay qua rừng tre, và Siddhartha đón con diệc vào tâm hồn mình, bay qua rừng và núi, làm một con diệc, ăn cá, chịu những cơn đói cồn cào của con diệc, kêu tiếng kêu của con diệc, chết cái chết của con diệc. Một con chó rừng chết nằm trên bờ cát, và linh hồn Siddhartha trượt vào trong thân xác ấy, làm con chó rừng chết, nằm trên bờ, trương phình, bốc mùi, rữa nát, bị bầy linh cẩu xé xác, bị lũ kền kền lột da, hóa thành bộ xương, hóa thành bụi, bị gió thổi bay khắp cánh đồng. Rồi linh hồn Siddhartha trở về, đã chết, đã rữa nát, đã tan thành bụi, đã nếm cơn say u ám của vòng luân hồi, và chờ đợi trong cơn khát mới, như người thợ săn rình ở khe hở, nơi chàng có thể thoát ra khỏi vòng luân hồi, nơi tận cùng của mọi nguyên nhân, nơi một cõi vĩnh hằng không đau khổ bắt đầu. Chàng giết chết các giác quan, giết chết ký ức, trượt ra khỏi bản ngã để vào hàng nghìn hình dạng khác, làm một con vật, làm xác chết, làm đá, làm gỗ, làm nước, và mỗi lần đều thức dậy để thấy lại bản ngã cũ của mình, mặt trời hay mặt trăng chiếu sáng, chàng lại là bản ngã của mình, lại quay vòng trong vòng luân hồi, lại thấy khát, lại vượt qua cơn khát, lại thấy cơn khát mới.
Siddhartha học được nhiều điều khi ở với các Sa-môn, chàng học đi nhiều con đường dẫn ra xa khỏi bản ngã. Chàng đi con đường từ bỏ bản thân bằng đau đớn, bằng cách tự nguyện chịu đựng và vượt qua đau đớn, đói, khát, mỏi mệt. Chàng đi con đường từ bỏ bản thân bằng thiền định, bằng cách hình dung tâm trí trống rỗng mọi ý niệm. Những con đường ấy và những con đường khác nữa, chàng học cách đi, cả nghìn lần chàng rời bỏ bản ngã, hàng giờ, hàng ngày chàng ở lại trong cõi vô ngã. Nhưng dù những con đường ấy dẫn ra xa khỏi bản ngã, cuối cùng chúng vẫn luôn dẫn về lại bản ngã. Dù Siddhartha có trốn chạy khỏi bản ngã cả nghìn lần, ở lại trong hư vô, ở lại trong con vật, trong hòn đá, thì sự trở về vẫn là điều không tránh được, không thoát được giờ phút chàng thấy mình trở lại dưới nắng hay dưới trăng, trong bóng râm hay trong mưa, lại một lần nữa là bản ngã của mình và là Siddhartha, và lại cảm thấy nỗi thống khổ của vòng luân hồi đã bị áp đặt lên mình.
Bên cạnh chàng là Govinda, cái bóng của chàng, đi cùng những con đường, gắng cùng những nỗ lực. Họ ít khi nói chuyện với nhau, ngoài những gì việc phụng sự và việc tu tập đòi hỏi. Thỉnh thoảng hai người đi qua các làng, xin thức ăn cho mình và cho các thầy.
"Anh nghĩ sao, Govinda," một hôm Siddhartha nói trong lúc đi xin ăn như vậy, "anh nghĩ sao, chúng ta có tiến bộ gì không? Chúng ta đã đạt được mục đích nào chưa?"
Govinda trả lời: "Chúng ta đã học, và chúng ta sẽ tiếp tục học. Anh sẽ là một Sa-môn lớn, Siddhartha. Bài tập nào anh cũng học nhanh, các Sa-môn già thường khen ngợi anh. Một ngày nào đó, anh sẽ là một bậc thánh, hỡi Siddhartha."
Siddhartha nói: "Tôi không sao bỏ được cảm giác rằng chuyện không phải như vậy, bạn của tôi. Những gì tôi học được khi ở giữa các Sa-môn, cho tới hôm nay, những điều ấy, hỡi Govinda, lẽ ra tôi đã có thể học nhanh hơn và bằng những cách đơn giản hơn. Trong bất cứ quán rượu nào ở khu phố có nhà thổ, bạn ạ, giữa những người đánh xe và những con bạc, tôi cũng đã có thể học được điều đó."
Govinda nói: "Siddhartha đang đùa tôi. Làm sao anh có thể học được thiền định, học nín thở, học không biết đến đói và đau, ở đó, giữa những con người khốn khổ ấy?"
Và Siddhartha khẽ nói, như đang nói với chính mình: "Thiền định là gì? Rời khỏi thân xác là gì? Nhịn ăn là gì? Nín thở là gì? Đó là trốn chạy khỏi bản ngã, là một cuộc thoát thân ngắn ngủi khỏi nỗi thống khổ của việc làm một bản ngã, là một lúc làm tê dại ngắn ngủi các giác quan trước nỗi đau và sự vô nghĩa của cuộc sống. Cũng cuộc thoát thân ấy, cũng sự tê dại ngắn ngủi ấy, là thứ người đánh xe bò tìm thấy trong quán trọ, khi uống vài bát rượu gạo hay nước dừa lên men. Lúc đó anh ta sẽ không còn cảm thấy bản ngã của mình nữa, lúc đó anh ta sẽ không còn cảm thấy những nỗi đau của cuộc sống nữa, lúc đó anh ta tìm được một lúc tê dại ngắn ngủi của các giác quan. Khi anh ta ngủ gục bên bát rượu gạo, anh ta sẽ tìm thấy đúng cái điều mà Siddhartha và Govinda tìm thấy khi họ thoát khỏi thân xác qua những bài tập dài, ở lại trong cõi vô ngã. Chuyện là như vậy đó, hỡi Govinda."
Govinda nói: "Anh nói vậy, hỡi người bạn, nhưng anh biết rằng Siddhartha không phải là người đánh xe bò, và một Sa-môn không phải là kẻ say rượu. Đúng là người uống rượu làm tê dại các giác quan, đúng là anh ta thoát ra và nghỉ ngơi trong chốc lát, nhưng rồi anh ta sẽ trở về từ cơn mê, thấy mọi thứ vẫn y nguyên, chẳng khôn ngoan hơn, chẳng góp nhặt được chút giác ngộ nào, chẳng bước lên được bậc nào."
Và Siddhartha mỉm cười nói: "Tôi không biết, tôi chưa bao giờ là kẻ say rượu. Nhưng tôi, Siddhartha, chỉ tìm được một lúc tê dại ngắn ngủi của các giác quan trong những bài tập và những buổi thiền định của mình, và tôi vẫn còn cách xa sự khôn ngoan, cách xa sự giải thoát, xa như một đứa bé còn nằm trong bụng mẹ, điều đó tôi biết, hỡi Govinda, điều đó tôi biết."
Và một lần khác nữa, khi Siddhartha cùng Govinda rời khỏi rừng, để vào làng xin chút thức ăn cho các huynh đệ và các thầy, Siddhartha bắt đầu nói: "Giờ thì sao, hỡi Govinda, liệu chúng ta có đang đi đúng đường không? Liệu chúng ta có đang tới gần giác ngộ không? Liệu chúng ta có đang tới gần sự giải thoát không? Hay có lẽ chúng ta đang sống trong một vòng tròn, chúng ta, những người đã tưởng mình đang thoát khỏi vòng luân hồi?"
Govinda nói: "Chúng ta đã học được nhiều, Siddhartha, vẫn còn nhiều điều để học. Chúng ta không đi vòng tròn, chúng ta đang đi lên, vòng tròn ấy là một đường xoắn ốc, chúng ta đã lên được nhiều bậc rồi."
Siddhartha đáp: "Anh nghĩ vị Sa-môn già nhất của chúng ta, người thầy đáng kính của chúng ta, năm nay bao nhiêu tuổi?"
Govinda nói: "Vị già nhất của chúng ta chắc chừng sáu mươi tuổi."
Và Siddhartha nói: "Ông ấy đã sống sáu mươi năm mà vẫn chưa đạt tới Niết-bàn. Ông ấy sẽ bảy mươi, tám mươi tuổi, còn anh và tôi, chúng ta cũng sẽ già như vậy, sẽ tập những bài tập của mình, sẽ nhịn ăn, sẽ thiền định. Nhưng chúng ta sẽ không đạt tới Niết-bàn, ông ấy không, và chúng ta cũng không. Hỡi Govinda, tôi tin rằng trong tất cả các Sa-môn ngoài kia, có lẽ không một ai, không một ai, sẽ đạt tới Niết-bàn. Chúng ta tìm thấy sự an ủi, chúng ta tìm thấy sự tê dại, chúng ta học những ngón tài để đánh lừa người khác. Nhưng điều quan trọng nhất, con đường của mọi con đường, chúng ta sẽ không tìm thấy."
"Phải chi anh," Govinda nói, "đừng nói những lời đáng sợ như vậy, Siddhartha! Làm sao có thể có chuyện, giữa biết bao nhiêu người học rộng, giữa biết bao nhiêu người Bà-la-môn, giữa biết bao nhiêu Sa-môn khắc khổ và đáng kính, giữa biết bao nhiêu người đang tìm kiếm, biết bao nhiêu người đang hăng hái cố gắng, biết bao nhiêu bậc thánh, mà không một ai tìm ra con đường của mọi con đường?"
Nhưng Siddhartha nói, bằng một giọng chứa đựng nỗi buồn cũng nhiều như sự giễu cợt, một giọng khẽ khàng, hơi buồn, hơi giễu cợt: "Chẳng bao lâu nữa, Govinda, bạn anh sẽ rời con đường của các Sa-môn, người bạn đã đi bên anh lâu như vậy. Tôi đang khổ vì khát, hỡi Govinda, và trên con đường dài của một Sa-môn này, cơn khát của tôi vẫn mạnh như xưa. Tôi luôn khát hiểu biết, tôi luôn đầy những câu hỏi. Tôi đã hỏi những người Bà-la-môn, năm này qua năm khác, tôi đã hỏi kinh Vệ-đà thiêng liêng, năm này qua năm khác, và tôi đã hỏi những Sa-môn mộ đạo, năm này qua năm khác. Có lẽ, hỡi Govinda, giá mà tôi đi hỏi con chim mỏ sừng hay con tinh tinh, thì cũng tốt y như vậy, cũng khôn ngoan y như vậy, cũng được lợi y như vậy. Tôi đã mất nhiều thời gian, và tôi vẫn chưa học xong điều này, hỡi Govinda: rằng chẳng có gì để học cả! Thật ra chẳng có cái điều mà chúng ta gọi là việc học, tôi tin là như vậy. Chỉ có, hỡi bạn tôi, một tri thức duy nhất, nó ở khắp nơi, đó là Atman, nó ở trong tôi, trong anh, và trong mọi sinh linh. Và vì vậy tôi bắt đầu tin rằng tri thức ấy không có kẻ thù nào tệ hơn là lòng ham muốn biết nó, là việc học."
Nghe vậy, Govinda dừng lại giữa đường, giơ hai tay lên, và nói: "Phải chi anh, Siddhartha, đừng làm phiền bạn mình bằng những lời như thế! Thật tình, lời anh nói khuấy lên nỗi sợ trong lòng tôi. Anh thử nghĩ coi: sự thiêng liêng của lời cầu nguyện sẽ ra sao, sự đáng kính của đẳng cấp Bà-la-môn sẽ ra sao, sự thánh thiện của các Sa-môn sẽ ra sao, nếu mọi chuyện như anh nói, nếu không có việc học? Rồi thì, hỡi Siddhartha, tất cả những gì thiêng liêng, những gì quý giá, những gì đáng kính trên mặt đất này, sẽ ra sao?"
Và Govinda lẩm nhẩm một câu kệ, một câu kệ trong một bản Áo Nghĩa Thư:
Ai trầm tư, với tinh thần đã thanh lọc, quên mình trong thiền định về Atman,
Niềm an lạc trong tim người ấy, lời nào nói cho hết được.
Nhưng Siddhartha vẫn im lặng. Chàng nghĩ về những lời Govinda vừa nói với chàng, và nghĩ những lời ấy cho tới tận cùng.
Phải rồi, chàng nghĩ, đứng đó với cái đầu cúi thấp, những gì còn lại của tất cả những điều mà chúng ta tưởng là thiêng liêng? Cái gì còn lại? Cái gì đứng vững được trước thử thách? Và chàng lắc đầu.
Có một lần, khi hai chàng trai đã sống giữa các Sa-môn chừng ba năm, đã cùng họ tu tập, thì một tin tức, một lời đồn, một huyền thoại đến tai họ sau khi đã được kể đi kể lại nhiều lần: Một người đã xuất hiện, tên là Gotama, Đức Thế Tôn, Đức Phật, Ngài đã vượt qua nỗi khổ của thế gian ngay trong chính mình, và đã chặn đứng vòng tái sinh. Người ta nói Ngài đi khắp xứ, giảng dạy, có các đệ tử vây quanh, không của cải, không nhà cửa, không vợ, trong tấm áo vàng của người khổ hạnh, nhưng với vầng trán thanh thản, một con người an lạc, và những người Bà-la-môn cùng các ông hoàng cúi mình trước Ngài và trở thành học trò của Ngài.
Huyền thoại ấy, lời đồn ấy, truyền thuyết ấy vang lên, hương thơm của nó bay lên, chỗ này chỗ kia; trong các thị trấn, những người Bà-la-môn nói về nó, và trong rừng, các Sa-môn cũng nói; hết lần này tới lần khác, cái tên Gotama, Đức Phật, lại đến tai hai chàng trai, với lời hay và lời dở, với lời khen và lời phỉ báng.
Giống như khi bệnh dịch bùng lên ở một xứ, và có tin đồn đi rằng ở nơi này hay nơi khác có một người, một bậc hiền triết, một người hiểu biết, chỉ lời nói và hơi thở của người ấy thôi cũng đủ để cứu khỏi bệnh cho mọi người đã nhiễm dịch, và khi tin ấy đi khắp xứ và ai cũng bàn tán, nhiều người sẽ tin, nhiều người sẽ ngờ, nhưng nhiều người sẽ lên đường càng sớm càng tốt, để tìm bậc hiền triết, người cứu giúp, thì huyền thoại này cũng chạy khắp xứ như vậy, huyền thoại thơm ngát về Gotama, Đức Phật, bậc hiền triết thuộc dòng họ Thích-ca (Sakya). Những người tin nói rằng Ngài có được sự giác ngộ cao nhất, Ngài nhớ lại những kiếp trước của mình, Ngài đã đạt tới Niết-bàn và không bao giờ trở lại vòng luân hồi, không bao giờ còn chìm vào dòng sông đục ngầu của những hình hài xác thân. Người ta kể về Ngài nhiều điều kỳ diệu và khó tin, Ngài đã làm phép lạ, đã chiến thắng ma vương, đã nói chuyện với các vị thần. Nhưng những kẻ thù của Ngài và những người không tin thì nói rằng gã Gotama này là một kẻ quyến rũ đầy hư danh, sống những ngày xa hoa, coi khinh lễ vật, không có học vấn, chẳng biết tu tập cũng chẳng biết khổ hạnh hành xác.
Huyền thoại về Đức Phật nghe thật ngọt ngào. Mùi hương của phép màu toát ra từ những lời kể ấy. Vì rốt cuộc thế gian đang bệnh, cuộc sống thật khó chịu đựng, và kìa, ở đây dường như có một dòng suối tuôn ra, ở đây dường như có một sứ giả cất tiếng gọi, an ủi, dịu dàng, đầy những lời hứa cao quý. Khắp nơi nào nghe thấy lời đồn về Đức Phật, khắp nơi trên đất Ấn Độ, những chàng trai lắng tai nghe, cảm thấy một niềm khao khát, cảm thấy hy vọng, và giữa những người con của các nhà Bà-la-môn ở thị trấn và làng mạc, mọi người hành hương và mọi khách lạ đều được đón chào, khi người ấy mang tin về Ngài, Đức Thế Tôn, Đức Thích-ca Mâu-ni.
Huyền thoại ấy cũng đã đến với các Sa-môn trong rừng, đến với Siddhartha, và đến với Govinda, chậm rãi, từng giọt, từng giọt, mỗi giọt nặng hy vọng, mỗi giọt nặng hoài nghi. Họ ít khi nói về chuyện đó, vì vị Sa-môn già nhất không ưa huyền thoại này. Ông đã nghe nói rằng vị gọi là Phật ấy trước kia vốn là một người khổ hạnh và đã sống trong rừng, nhưng rồi đã quay về với sự xa hoa và những thú vui trần thế, và ông chẳng đánh giá cao gì gã Gotama này.
"Hỡi Siddhartha," một hôm Govinda nói với bạn. "Hôm nay tôi vào làng, có một người Bà-la-môn mời tôi vào nhà, và trong nhà ông có người con trai của một nhà Bà-la-môn từ xứ Ma-kiệt-đà (Magadha), người đã tận mắt thấy Đức Phật và đã nghe Ngài giảng dạy. Thật tình, chuyện đó làm ngực tôi nhói đau mỗi khi thở, và tôi tự nghĩ: Phải chi tôi cũng được, phải chi cả hai chúng ta cũng được, Siddhartha và tôi, sống tới cái giờ được nghe lời dạy từ chính miệng con người toàn thiện ấy! Anh nói đi, bạn ơi, chẳng lẽ chúng ta lại không muốn tới đó, nghe lời dạy từ chính miệng Đức Phật sao?"
Siddhartha nói: "Hỡi Govinda, tôi vẫn luôn nghĩ Govinda sẽ ở lại với các Sa-môn, tôi vẫn luôn tin mục đích của Govinda là sống tới sáu mươi, bảy mươi tuổi và cứ tiếp tục tập những ngón tài và những bài tập vốn hợp với một Sa-môn. Nhưng kìa, tôi đã không hiểu Govinda đủ, tôi biết quá ít về trái tim anh. Vậy là bây giờ anh, người bạn trung thành của tôi, muốn đi một con đường mới, và tới nơi Đức Phật đang truyền bá giáo lý của Ngài."
Govinda nói: "Anh đang chế giễu tôi. Cứ chế giễu tôi nếu anh muốn, Siddhartha! Nhưng chẳng phải chính anh cũng đã nảy ra một niềm mong muốn, một sự háo hức, muốn nghe những lời dạy ấy sao? Và chẳng phải có lần anh đã nói với tôi rằng anh sẽ không đi con đường của các Sa-môn lâu nữa sao?"
Nghe vậy, Siddhartha cười theo cái cách rất riêng của chàng, giọng chàng mang một chút buồn và một chút giễu cợt, và nói: "Phải, Govinda, anh nói hay lắm, anh nhớ đúng lắm. Giá mà anh cũng nhớ luôn điều khác mà anh đã nghe tôi nói, rằng tôi đã trở nên ngờ vực và mỏi mệt với giáo lý và việc học, và rằng niềm tin của tôi vào những lời nói mà các bậc thầy mang tới cho chúng ta thì nhỏ nhoi lắm. Nhưng thôi, chúng ta đi, bạn thân mến, tôi sẵn lòng nghe những lời dạy ấy, dù trong lòng tôi tin rằng chúng ta đã nếm được trái ngon nhất của những lời dạy ấy rồi."
Govinda nói: "Anh sẵn lòng như vậy làm tôi vui lắm. Nhưng anh nói tôi nghe, làm sao có thể như vậy được? Làm sao giáo lý của Gotama, ngay cả khi chúng ta chưa nghe, lại đã trao cho chúng ta trái ngon nhất của nó?"
Siddhartha nói: "Chúng ta hãy ăn trái này và chờ phần còn lại, hỡi Govinda! Trái này, thứ mà chúng ta đã nhận được ngay từ bây giờ nhờ Gotama, chính là việc Ngài đã gọi chúng ta rời khỏi các Sa-môn! Còn Ngài có những điều khác, những điều tốt hơn để trao cho chúng ta hay không, bạn ơi, thì chúng ta hãy chờ xem với một trái tim bình thản."
Ngay trong ngày hôm ấy, Siddhartha báo cho vị Sa-môn già nhất biết quyết định của mình, rằng chàng muốn rời bỏ ông. Chàng báo cho vị già nhất với tất cả sự lễ độ và khiêm nhường của một người trẻ hơn và một người học trò. Nhưng vị Sa-môn nổi giận, vì hai chàng trai muốn bỏ ông mà đi, và ông nói lớn tiếng, và buông ra những lời chửi rủa thô tục.
Govinda giật mình và bối rối. Nhưng Siddhartha ghé miệng sát tai Govinda và thì thầm: "Bây giờ tôi muốn cho ông già thấy rằng tôi đã học được chút gì đó từ ông."
Đứng sát ngay trước mặt vị Sa-môn, với một tâm hồn tập trung, chàng bắt lấy ánh mắt ông già bằng ánh mắt của mình, tước đi sức mạnh của ông, làm ông câm lặng, lấy đi ý chí tự do của ông, khuất phục ông dưới ý chí của chàng, ra lệnh cho ông lặng lẽ làm bất cứ điều gì chàng đòi hỏi. Ông già trở nên câm lặng, đôi mắt ông bất động, ý chí ông tê liệt, đôi tay ông buông thõng; không còn chút sức lực, ông đã rơi vào bùa phép của Siddhartha. Còn những ý nghĩ của Siddhartha thì đặt vị Sa-môn dưới quyền điều khiển của chúng, ông phải làm theo điều chúng ra lệnh. Và như vậy, ông già cúi chào mấy lần, làm những cử chỉ ban phước, lắp bắp nói một lời chúc lành thành kính cho chuyến đi được suôn sẻ. Hai chàng trai cúi chào đáp lễ, cảm tạ, đáp lại lời chúc, rồi chào từ biệt và lên đường.
Trên đường đi, Govinda nói: "Hỡi Siddhartha, anh đã học được ở các Sa-môn nhiều hơn tôi tưởng. Khó lắm, rất khó để bỏ bùa một ông Sa-môn già. Thật tình, nếu anh ở lại đó, chẳng bao lâu anh sẽ học được cách đi trên mặt nước."
"Tôi không tìm cách đi trên mặt nước," Siddhartha nói. "Hãy để những ông Sa-môn già vui với những ngón tài như vậy!"
Hết chương hai.
Mình nhớ hoài con diệc bay qua rừng tre, và chàng trai gầy guộc gửi hồn theo nó, bay qua rừng qua núi, rồi lần nào cũng phải trở về với chính mình. Đi xa tới đâu, rốt cuộc mình vẫn về lại chỗ mình đang đứng. Hẹn bạn ở chương ba nghen.