Tình Ca kể chuyện · Radio Tâm Sự
Gọi Một Cuộc Điện Thoại Cho Thầy Cũ
Có những người mình gọi là thầy, là cô, mà cả đời họ chưa từng đứng trên bục giảng của một ngôi trường nào hết.
Đây là Radio Tâm Sự của Tình Ca. Vương đây. Còn mấy bữa nữa là tới ngày hai mươi tháng mười một, Ngày Nhà giáo Việt Nam. Mấy bữa này đi ngang cổng trường, bạn ngó coi, tiệm hoa kê bông ra tới lề, con nít cầm thiệp, cầm bó hồng, mặt đứa nào cũng hớn hở. Còn người lớn như mình, đi làm rồi, có khi lâu lắm rồi không còn nhớ tới cái ngày này nữa.
Tối nay Vương muốn kể bạn nghe chuyện của ba người dạy chữ. Một ông nông dân. Một bà cô bán nước bên sông. Và một ông thầy dạy tiếng Anh, qua lời kể của chính người học trò cũ. Toàn là chuyện thật, đã đăng trên báo. Bạn nghe xong, Vương có một chuyện nhỏ muốn nhờ bạn làm. Để cuối chương trình Vương nói nghen.
Chuyện thứ nhất ở ngay Sài Gòn mình.
Bên quận Tân Phú cũ, trên đường Phan Anh, có một lớp học mà người ta kêu là lớp học tình thương. Người mở lớp tên Đoàn Minh Hùng. Học trò với người trong xóm kêu ông là ông giáo. Mà nói thiệt, ông không phải giáo viên. Báo Pháp Luật Việt Nam viết ông xuất thân là nông dân. Hai vợ chồng đi làm thuê, sống cũng chật vật lắm.
Chuyện bắt đầu từ khoảng năm hai nghìn không trăm mười. Hồi đó vợ chồng ông còn ở trọ bên Bình Tân. Theo báo VTC News, trong cái xóm trọ nghèo đó có hai đứa nhỏ đi bán vé số. Hai đứa muốn đi học mà nhà không có tiền. Vợ chồng ông nói thôi, để tụi tui dạy cho. Dạy không lấy đồng nào.
Hai đứa học được chữ. Rồi người ta thấy, người ta dắt con tới. Đứa này kéo đứa kia. Báo Đại Đoàn Kết kể, con nít trong xóm đứa thì bán vé số, đứa thì lượm ve chai. Lớp cứ vậy mà đông lên.
Đông thì phải có chỗ. Mà tiền đâu. Ông làm một chuyện mà người nhà quê nghe chắc ai cũng giật mình. Ông bán miếng đất hương hỏa dưới quê. Đất hương hỏa là đất để thờ ông bà, người miền mình coi trọng lắm, ít ai dám đụng tới. Ông bán, lấy tiền lên thuê căn nhà ở đường Phan Anh. Một phòng làm lớp học. Một phòng hai vợ chồng mở quán cơm chay.
Cái quán cơm chay đó cũng là một chuyện đáng kể. Theo báo Đại Đoàn Kết, một dĩa cơm chỉ tám tới mười nghìn đồng, cho người lao động nghèo. Còn người già neo đơn, người nghèo quá thì ăn khỏi trả tiền. Tiền lời quán cơm, cộng với tiền mấy người tốt bụng góp vô, nuôi cái lớp học.
Lớp có chín cấp, từ vỡ lòng tới lớp tám. Số học trò thì mỗi tờ báo ghi một kiểu, vì mỗi năm mỗi khác. Báo Đại Đoàn Kết năm hai nghìn không trăm mười chín ghi hơn tám chục em, có lúc đông nhất lên tới khoảng một trăm ba chục em. Báo Pháp Luật Việt Nam năm hai nghìn không trăm hai mươi thì ghi hơn một trăm em. Mỗi tháng tốn chừng hai mươi lăm tới ba mươi triệu đồng, tùy báo. Sinh viên tình nguyện tới phụ dạy. Người trong nhà thay phiên nhau đứng lớp. Ông còn nhận nuôi mấy đứa nhỏ mồ côi, cơ nhỡ.
Báo VTC News có ghi lại một câu ông nói, mà Vương đọc xong ngồi im một hồi: "Điều nuối tiếc nhất cuộc đời của tôi là không được đi học đầy đủ."
Bạn ngó coi. Một người cả đời tiếc vì không được học. Ông không ngồi tiếc hoài. Ông đem cái tiếc đó đi mở lớp, cho mấy đứa nhỏ khỏi phải tiếc giống mình.
Báo Đại Đoàn Kết ghi lại mong ước của ông, đại ý là mong sao tụi nhỏ có cái chữ, để sau này vào đời không bị thiệt thòi. Mong ước giản dị lắm. Không phải mong tụi nó giàu. Không phải mong tụi nó làm ông này bà nọ. Chỉ mong đừng bị thiệt.
Vương nghĩ hoài về hai chữ thiệt thòi đó. Ai từng đi làm mướn, từng ký một tờ giấy mà đọc không hiểu hết, từng bị người ta tính tiền sai mà không biết cãi, thì mới hiểu cái chữ nó quý cỡ nào. Biết chữ là có cái để tự đứng lên. Ông Hùng không có bằng sư phạm. Mà cái ông trao cho mấy đứa nhỏ bán vé số, Vương nghĩ, là đúng cái việc của một người thầy.
Chuyện thứ hai, mình đi xuống miền Tây một chút nghen.
Năm hai nghìn không trăm mười hai, báo Tuổi Trẻ có viết về một bà cô ở phường Lái Hiếu, thị xã Ngã Bảy, hồi đó còn thuộc tỉnh Hậu Giang. Bà tên Nguyễn Thị Đỏ, người ta quen kêu là cô Ba Đỏ. Năm đó cô sáu mươi tám tuổi.
Hồi trẻ, cô học trường sư phạm ở Vĩnh Long. Rồi vì hoàn cảnh gia đình, cô phải bỏ nghề. Cả nhà dời lên vùng kinh tế mới, rồi lại về Lái Hiếu, mở một cái quán nước nhỏ bên bờ sông.
Ngồi bán nước, cô thấy con nít nhà nghèo trong xóm, có đứa không nhà, có đứa không ai ngó ngàng. Cô kêu tụi nhỏ vô quán, dạy học. Dạy không lấy tiền. Theo báo Tuổi Trẻ, cô dạy từ lớp một tới lớp chín. Toán, tiếng Việt, rồi tiếng Anh, vật lý, hóa học. Một bà cô bán nước, dạy đủ thứ môn.
Mà lớp học của cô không có bảng đen đàng hoàng đâu bạn ơi. Báo kể cô lấy cánh cửa tủ làm bảng. Lúc đông nhất có tới cả trăm đứa, cô phải chia ra học buổi sáng, buổi chiều. Tháng nào cô cũng cho làm bài kiểm tra, đứa nào điểm cao thì được thưởng tập, thưởng viết. Có đứa học với cô liên tục chín năm trời.
Cái chi tiết làm Vương thương nhất là cái này. Tới năm đó, cô đang dạy con của mấy đứa học trò cũ. Tức là cô dạy hai thế hệ. Đứa nhỏ ngồi trong quán nước hồi xưa, giờ lớn rồi, có con, lại dắt con tới cái quán bên sông đó, gửi cho cô Ba.
Gần ba chục năm, cô không lấy lương. Báo ghi lại ước vọng của cô: "Ước vọng của tôi là có sức khỏe tốt để có thể dạy thêm mười năm nữa."
Bài báo đó viết cách đây đã lâu. Vương không biết bây giờ cô Ba còn dạy không, còn khỏe không. Vương không dám đoán. Vương chỉ biết, ở một khúc sông dưới Ngã Bảy, từng có một cánh cửa tủ làm bảng đen, và một bà cô bán nước ngồi dạy chữ cho con nít nghèo, mấy chục năm không hỏi ai một đồng.
Nghe chuyện cô Ba, Vương nghĩ tới chữ ơn. Người miền mình hay nói, học trò là phải nhớ ơn thầy. Mà ngó lại, cô Ba đâu có dạy để được nhớ ơn. Cô dạy vì cô thấy tụi nhỏ cần. Cái ơn đó, người ta trả bằng cách dắt con mình tới lớp của cô. Vương nghĩ, với một người thầy, chắc đó là cách cảm ơn đẹp nhất.
Chuyện thứ ba là chuyện của một người học trò kể về thầy mình.
Hai mươi tháng mười một năm hai nghìn không trăm mười chín, nhà văn Nguyễn Phan Quế Mai viết một bài trên VnExpress, tựa là "Thầy tôi". Chị kể hồi nhỏ nhà chị nghèo, ở Bạc Liêu. Sáng sớm chị đi bắt tép, đi bán rau rồi mới tới trường, về lại ra đồng phụ ba má. Chị viết: "Tuổi thơ của tôi gắn liền với lam lũ và khổ cực. Rồi thầy đến."
Thầy tên Trương Văn Ánh. Thầy học xong đại học ngoại ngữ ở Sài Gòn, rồi chọn về Bạc Liêu dạy. Hồi nhỏ thầy bị bệnh, một bên chân đi lại khó khăn. Thầy mở lớp tiếng Anh buổi tối, dạy miễn phí cho con nhà nghèo. Mở đầu buổi học, thầy ôm cây đàn ghi ta, dạy tụi nhỏ hát.
Rồi tới cái chuyện phong bì. Học trò thương thầy, lén góp tiền, bỏ vô cặp của thầy. Thầy biết. Theo lời chị Quế Mai kể, thầy cho nghỉ buổi học đó, trả lại tiền, và nói chỉ dạy tiếp nếu tụi nhỏ lấy tiền về và hứa không làm vậy nữa. Thầy hỏi học trò: "Các em có biết rằng thầy dạy cho các em cũng chỉ vì thầy biết các em rất nghèo nhưng ham học hay không?"
Thầy còn tới tận nhà chị, xin ba má chị cho chị thời gian để học, rồi mở thêm một lớp nâng cao miễn phí cho mấy đứa học giỏi.
Chị kể, thầy không chỉ dạy tiếng Anh. Thầy dạy nhân cách, lòng vị tha, sự giản dị, khiêm nhường, và tinh thần chịu tìm tòi học hỏi. Nhiều học trò của thầy về sau đoạt giải tiếng Anh toàn quốc, có người được học bổng đi nước ngoài. Chị Quế Mai năm một nghìn chín trăm chín mươi ba được học bổng của chính phủ Úc, rồi thành nhà văn viết bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh. Còn thầy Ánh, lúc bài báo đăng, đang dạy ở khoa Ngoại ngữ, trường Đại học Sài Gòn.
Vương đọc bài đó mà thấy một điều. Mấy chục năm sau, người học trò cũ vẫn nhớ cây đàn ghi ta, vẫn nhớ cái cặp của thầy, vẫn nhớ câu thầy hỏi. Có khi thầy không biết là mình được nhớ kỹ tới vậy. Người thầy gieo một câu nói, rồi đi tiếp. Mấy chục năm sau câu nói đó mới nở ra, ở một chỗ thầy không thấy.
Ba người, ba chỗ khác nhau. Một ông nông dân ở Tân Phú. Một bà cô bán nước ở Ngã Bảy. Một ông thầy đi đứng khó khăn ở Bạc Liêu. Không ai giàu. Không ai dạy để lấy tiền. Mà họ có chung một thứ. Họ thấy một đứa nhỏ đang đứng ngoài cửa lớp, và họ không đành lòng để nó đứng đó hoài.
Vương nghĩ, ai trong mình cũng có ít nhất một người như vậy. Có thể là cô giáo lớp một, cầm tay mình viết chữ a. Có thể là ông thầy dạy toán khó tính, mà nhờ ổng mình mới qua được kỳ thi. Có thể là một người chị trong xóm, một ông chú dạy mình sửa xe, một người quản đốc dạy mình nghề đầu tiên. Không phải ai cũng mang chữ thầy trên giấy tờ. Mà ai dạy mình một điều tốt, người đó là thầy.
Mấy người đó giờ ở đâu, bạn có biết không? Có người đã nghỉ hưu, sống một mình. Có người đã yếu, tai nghe không còn rõ. Có người đã đi xa. Học trò thì lớn lên, đi làm, lấy vợ lấy chồng, lo cho con. Năm này qua năm khác, mình cứ tính để bữa nào rảnh. Mà cái bữa rảnh đó, nhiều khi không tới.
Nên đây là chuyện nhỏ Vương muốn nhờ bạn. Trong mấy ngày này, trước hay sau ngày hai mươi tháng mười một cũng được, bạn thử gọi một cuộc điện thoại cho một người thầy cũ. Không cần quà. Không cần bông. Chỉ cần nói: "Thầy ơi, con là đứa học trò năm đó nè. Con nhớ thầy." Hoặc "Cô ơi, con còn nhớ cô."
Nếu không còn số điện thoại thì hỏi bạn học cũ. Hỏi nhóm lớp. Ai còn ở gần trường cũ thì ghé ngang một bữa. Nếu người đó không còn nữa, thì bạn thắp một nén nhang, hay đơn giản là kể về thầy cho con mình nghe. Vương nghĩ, vậy cũng là nhớ.
Người làm thầy cả đời đứng nói cho người khác nghe. Tới lúc già rồi, cái họ mong được nghe nhất, có khi chỉ là một giọng nói quen quen bên kia đầu dây, nói con còn nhớ thầy.
Còn bạn, người thầy, người cô mà bạn nhớ nhất là ai? Họ đã dạy bạn điều gì mà tới giờ bạn còn mang theo? Kể cho Vương nghe với nghen. Trên web tinhca chấm o rờ gờ có chỗ để bạn gửi.
Chuyện ông Đoàn Minh Hùng Vương lấy từ báo Pháp Luật Việt Nam, báo Đại Đoàn Kết và VTC News. Chuyện cô Ba Đỏ từ báo Tuổi Trẻ. Chuyện thầy Trương Văn Ánh từ bài viết của nhà văn Nguyễn Phan Quế Mai trên VnExpress.