Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Radio Tâm Sự

Ở Sài Gòn, Sao Người Lạ Lại Tốt Với Mình Vậy?

Có những người mình gặp đúng một lần trong đời, không biết tên, không xin được số điện thoại, mà nhớ hoài.

Đây là Radio Tâm Sự của Tình Ca. Vương đây. Tối nay Vương muốn nói chuyện về người lạ. Người lạ ở Sài Gòn. Người mà bạn gặp lúc xe bể bánh giữa trưa, lúc hết xăng giữa đường, lúc túng quá không biết bữa nay ăn gì. Người đó giúp bạn một chút, rồi đi. Không đợi bạn cảm ơn cho xong.

Bạn ngó coi, ai ở Sài Gòn lâu chắc cũng có một chuyện như vậy. Bữa đó trời mưa, xe chết máy, có ông chú đi ngang dừng lại đạp giùm. Bữa đó đi lạc, có cô bán nước chỉ đường tận tình, còn kêu ngồi uống ly trà đá rồi hãy đi. Bữa đó quên ví, chủ quán nói thôi bữa sau đưa cũng được. Mấy chuyện đó nhỏ xíu, mà mình nhớ lâu lắm.

Nói thiệt, Vương hay nghĩ, người lạ đâu có nợ mình cái gì. Họ không biết mình là ai, không biết mình tốt hay xấu, không trông mình trả lại. Vậy mà họ vẫn giúp. Cái đó mới lạ.

Tối nay Vương kể bạn nghe ba chuyện mà báo đã viết.

Chuyện thứ nhất là chuyện hộp cơm treo.

Bạn nghe chữ cơm treo chắc thấy lạ. Báo VnExpress năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn có viết về chuyện này. Cách làm như vầy. Khách vô quán ăn, trả tiền phần của mình, rồi trả thêm tiền một phần cơm nữa, để đó. Gọi là treo. Rồi sau đó, có ai khó khăn ghé qua, thì lấy phần cơm treo đó mà ăn. Người trả tiền không biết ai ăn. Người ăn không biết ai trả. Báo kể cái kiểu này học theo cái lệ cà phê treo ở thành phố Naples bên Ý, từ đầu thế kỷ trước.

Ở Sài Gòn, có một quán cơm tấm trên đường Nguyễn Ảnh Thủ, xã Bà Điểm, huyện Hóc Môn, của một cậu chủ hai mươi ba tuổi tên Thành Công. Cậu bắt đầu làm cơm treo từ đầu tháng năm năm đó. Mỗi ngày có chừng năm tới tám phần cơm được treo.

Cậu Công nói với báo một ý mà Vương thấy rất tinh tế. Cơm treo là ngẫu nhiên, không phải phát từ thiện theo giờ theo lịch, nên người nhận không thấy ngại.

Bạn để ý coi, cái tinh tế nằm ở chỗ đó. Giúp người ta, mà giữ cho người ta cái mặt mũi. Người ta vô quán như một người khách, ăn hộp cơm như mọi người, chứ không phải đứng xếp hàng chờ phát.

Ai treo cơm? Báo có kể một cô tên Minh Thy, hai mươi chín tuổi. Đầu tháng năm cô coi được một cái video quay một cậu bé tới lấy phần cơm treo. Cô nói: "Tôi xúc động trước nét mặt vui mừng của cậu bé". Từ đó mỗi tuần cô ghé quán chừng hai lần, mỗi lần treo hai tới bốn phần. Còn có anh Long Hoàng, ba mươi mốt tuổi, chạy mười cây số tới một quán cơm gà nướng bên Bình Thạnh. Mỗi ngày anh gửi một phần cho con nít hay người lao động lớn tuổi, mỗi quý chừng ba triệu. Anh nói gọn: "Tôi thấy hình thức hay và ý nghĩa".

Còn ai ăn cơm treo? Có bé Đức, năm tuổi, đi bán vé số, ngày nào cũng đi ngang quán để lấy một phần cơm, vì bé hiếm khi đủ tiền mua một dĩa cơm sườn. Bé nói gọn: "Con cảm thấy rất vui". Bà nội của bé là bà Hồng, sáu mươi mốt tuổi, bị bệnh thận, cũng đi bán vé số, một mình nuôi hai đứa cháu trai. Lúc đầu bà ngại không dám nhận. Tới khi cậu chủ quán giải thích đó là quà của một người khách gửi, không phải bố thí, bà mới chịu.

Rồi có ông Phạm Cao, cũng sáu mươi mốt tuổi, quê Sóc Trăng. Vợ ông mất vì ung thư, nhà bán ruộng, ông lên Sài Gòn được chừng bốn tháng, đi bán vé số. Mỗi ngày bán được chừng một trăm hai chục nghìn, mà tiền thuốc khớp đã hết tám chục nghìn. Ông thường chỉ ăn một bữa một ngày.

Ông Cao ăn hộp cơm treo, rồi nói với phóng viên một câu: "Đó là hộp cơm ngon nhất từ khi tôi lên Sài Gòn đến giờ."

Vương ngồi đây, đọc tới câu đó mà thấy lạ. Hộp cơm tấm đó chắc cũng giống mọi hộp cơm tấm khác. Có miếng sườn, có trứng, có đồ chua. Mà nó ngon nhất. Vì nó là lần đầu tiên, sau bốn tháng lên thành phố, có một người không biết ông là ai mà để dành cho ông một bữa ăn. Cái ngon đó không nằm ở miếng sườn.

Chuyện thứ hai là chuyện mấy xị xăng.

Năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, báo Tuổi Trẻ có đăng một bài của ông Trương Minh Nhật, người sinh ra, lớn lên ở Sài Gòn, ở đây hơn nửa thế kỷ. Ông kể hai chuyện của chính ông.

Chuyện đầu là năm hai nghìn không trăm mười chín. Ông đi làm ca sớm ở một bệnh viện bên Bình Chánh, năm giờ sáng đã phải chạy xe đi. Tới ngã tư Mai Chí Thọ với Đồng Văn Cống thì xe hết xăng. Cây xăng ở bên kia con lươn, cách hơn sáu trăm mét.

Có một anh chạy xe ôm công nghệ dừng lại. Nghe giọng thì ông đoán anh là người Bình Định. Anh kiếm một cái chai nhựa, băng qua con lươn, đi mua xăng, đem về đổ vô xe cho ông. Ông đưa tiền, anh không lấy.

Anh nói: "Ôi, bao nhiêu xăng mà nhằm nhò gì, ngày tôi mới vào đây người Sài Gòn giúp tôi nhiều hơn vậy nữa." Rồi anh nói thêm: "Nhờ vậy mới trụ lại được năm năm ở Sài Gòn đó anh."

Rồi anh còn nói: "Thì nhờ nhiễm tính hào sảng của Sài Gòn chứ nhờ cái gì nữa."

Rồi hai năm sau, tháng ba năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, giữa trưa, trời nóng chừng bốn mươi độ. Ông Nhật chạy tới ngã tư Võ Văn Kiệt với Huỳnh Mẫn Đạt thì gặp một cậu chạy xe ôm công nghệ hết xăng. Cậu mới lên Sài Gòn được một tháng, mới đăng ký chạy xe.

Lần này tới lượt ông. Ông chiết xăng từ xe mình qua cho cậu, hơn một xị một chút, đủ để cậu chạy tới cây xăng trên đường Trần Hưng Đạo. Cậu móc tiền ra đưa. Ông nói: "Cất đi tiền bạc gì, nhiêu đó mà nhằm nhò gì."

Bạn ơi, nghe hai chuyện đó, Vương thấy như một sợi dây. Ngày xưa có người Sài Gòn giúp anh Bình Định. Anh Bình Định giúp lại ông Nhật. Ông Nhật giúp một cậu mới lên được một tháng. Rồi biết đâu mai mốt cậu đó lại dừng xe giúp một người khác. Mấy xị xăng đi một vòng, mà không ai lấy của ai đồng nào.

Cái câu nhằm nhò gì, Vương nghĩ đó là câu đặc sệt Sài Gòn. Giúp người ta xong, mình làm như chuyện đó nhỏ lắm, để người ta khỏi thấy mắc nợ. Mà người nhận thì đâu có thấy nhỏ. Anh xe ôm Bình Định vẫn nhớ mấy lần được người Sài Gòn giúp hồi mới lên, nhớ tới mức kể lại cho một người lạ nghe. Còn ông Nhật thì nhớ cái buổi sáng năm giờ đó, nhớ tới mức viết ra gửi cho báo.

Chuyện thứ ba là chuyện một ông vá xe.

Năm hai nghìn không trăm mười sáu, báo Pháp Luật Việt Nam viết về ông Phạm Văn Lương, lúc đó năm mươi hai tuổi, người nhỏ thó, da đen. Ông quê Quảng Ninh, hồi trẻ đi bộ đội, năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt thì vô Sài Gòn. Ông có vợ, có hai đứa con. Rồi vợ ông chịu không nổi cái nghèo, bỏ đi, để lại ông với đứa con nhỏ chưa tới hai tuổi. Ông một mình nuôi hai đứa con. Ông kể có bảy tám năm, ba cha con sống ngoài đường.

Ông có một cái sạp bơm vá xe trên vỉa hè, gần bệnh viện Từ Dũ. Trên đó có cái bảng ghi bơm vá xe miễn phí cho người khuyết tật.

Cái bảng đó có từ đâu? Báo kể, khoảng hai mươi mấy năm trước, có một ông già bị liệt, ngồi xe lăn, bánh xe xì. Ông già ghé mấy chỗ sửa xe mà bị từ chối. Tới chỗ ông Lương, ông vá cho, không lấy tiền. Bữa sau, ông dựng cái bảng.

Mà cái bảng ghi người khuyết tật, chứ thật ra người nghèo, học trò, công nhân tới, ông cũng vá không. Ông nói: "Để vậy thôi, chứ ai đến bơm vá cũng nhận mình nghèo hết thì không lẽ từ chối."

Ông đâu có dư dả gì. Lúc báo viết, ông còn thuê một phòng trọ chừng một triệu một tháng trong một xóm trọ nghèo gần đó. Rảnh thì ông chạy xe ôm. Hai đứa con thì đi học ở một mái ấm tình thương. Ông nói về mình: "Có bát cơm qua ngày là may mắn rồi, chẳng ước mơ gì nhiều."

Người xung quanh gọi ông là Lương khờ, Lương gàn. Còn ông thì nói một câu thiệt đơn giản: "Giúp được ai đó là niềm hạnh phúc."

Vương ngồi nghĩ, ông Lương là người từng sống ngoài đường bảy tám năm với hai đứa con. Ông biết cái cảnh đi tới đâu cũng bị từ chối là sao. Có lẽ vì vậy mà ông không nỡ từ chối ai. Cái nghèo không làm ông keo lại. Nó làm ông hiểu người ta hơn.

Mà Vương cũng muốn nói thêm về cái phía người nhận. Bạn nhớ bà Hồng không, bà nội của bé Đức. Lúc đầu bà ngại, không dám nhận hộp cơm. Vương hiểu cái ngại đó. Người lớn tuổi, cả đời tự làm tự ăn, tự nhiên nhận đồ của người ta thì thấy kỳ. Nhiều bạn đang nghe chắc cũng vậy. Kẹt cỡ nào cũng ráng chịu, không muốn mở miệng nhờ ai.

Mà Vương nghĩ, có lúc mình cho, có lúc mình nhận. Nhận một hộp cơm lúc mình kẹt không làm mình nhỏ đi. Cái anh xe ôm Bình Định hồi mới lên cũng nhận. Nhận rồi, tới lượt anh cho. Cái vòng đó chỉ chạy được khi có người chịu nhận.

Ba chuyện, ba kiểu người. Một cậu chủ quán cơm tấm trẻ măng. Một anh xe ôm quê Bình Định. Một ông vá xe từng ngủ ngoài đường. Không ai giàu. Không ai làm chuyện gì to tát. Mà Sài Gòn ấm lên một chút nhờ mấy người như vậy.

Vương nghĩ, lòng tốt của người lạ có một cái hay. Nó không đòi mình trả lại cho đúng người đó. Mình đâu có biết anh Bình Định ở đâu mà trả. Mình chỉ có thể trả bằng cách đưa nó cho một người lạ khác. Treo một phần cơm. Chiết một xị xăng. Chỉ đường cho một người đi lạc. Dừng xe hỏi một câu, có sao không em.

Nên nếu tối nay bạn đang nhớ tới một người lạ từng giúp mình, mà không biết họ ở đâu để cảm ơn, thì đừng tiếc. Mai mốt gặp ai đang kẹt giữa đường, bạn dừng lại. Coi như là gửi lời cảm ơn đi xa.

Còn bạn, ở Sài Gòn, hay ở bất cứ đâu, có người lạ nào từng giúp bạn mà bạn nhớ hoài không? Một ly trà đá, một lần đẩy xe, một hộp cơm? Kể cho Vương nghe với nghen. Trên web tinhca chấm o rờ gờ có chỗ để bạn gửi.

Những chuyện Vương kể tối nay, Vương lấy từ báo VnExpress, báo Tuổi Trẻ và báo Pháp Luật Việt Nam.