Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Cụ bà gần chín mươi tuổi ở Thủ Dầu Một và gánh bánh mì năm nghìn đồng cho người lao động nghèo
Bốn giờ sáng ở Thủ Dầu Một, khi ấy còn thuộc tỉnh Bình Dương, đường Nguyễn Chí Thanh còn tối. Một bà cụ tóc bạc đã ngồi sẵn ở góc đường, đối diện khu vui chơi thiếu nhi của nhà văn hóa phường Hiệp An. Trước mặt bà là gánh bánh mì. Người khách đầu tiên ghé lại, đưa tờ năm nghìn đồng. Bà trao lại một ổ bánh mì có thịt, có xíu mại. Trời chưa sáng mà gánh bánh đã có người đứng chờ.
Bà cụ tên Nguyễn Thị Ngang. Tháng mười năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, khi báo Dân Trí tìm tới, bà tám mươi sáu tuổi. Một năm sau, báo VietNamNet và báo Tiền Phong viết về bà, bà tám mươi bảy. Theo Dân Trí, bà đã bán bánh mì ở khu này gần bốn mươi năm. Người quanh đó ai cũng biết cái gánh của bà.
Ngày của bà bắt đầu khi người khác còn ngủ say. Báo Dân Trí kể bà dậy khoảng hai giờ sáng để hâm lại nhân bánh. Báo Tiền Phong ghi khoảng ba giờ bà dậy chuẩn bị cho gần một trăm ổ. Hơn bốn giờ, đứa con trai út chở bà ra điểm bán, cách nhà vài cây số. Người con khiêng xuống đôi quang gánh, bịch bánh mì, mấy thau nhân. Bà dọn hàng ở một góc nhỏ. Có hôm mệt quá bà ngủ quên, nhưng chưa bao giờ bà nghỉ, vì sợ khách quen tới mà không có bánh, nhất là những người phải ăn sớm để kịp giờ vào ca.
Nhân bánh là do bà làm bằng tay hết. Bà tự xay thịt, vo viên xíu mại. Thịt ba rọi cắt miếng nhỏ, trộn với bì heo. Có cả nhân cá hộp. Gia vị, rau ăn kèm bà chuẩn bị đầy đủ, báo Dân Trí viết là không thua gì ổ bánh mì mấy chục nghìn ngoài tiệm. Mọi thứ bà tự xếp gọn lên mâm, đặt lên quang gánh.
Tay bà vẫn nhanh. Vừa gắp nhân bỏ vào ổ bánh, bà vừa hỏi thăm người này người kia. Bà nhớ ai thích ăn gì, ai làm nghề gì. Mỗi ngày bà bán chừng một trăm năm mươi ổ. Hơn bảy giờ sáng là hết. Bà gánh hàng, đi bộ về nhà. Buổi trưa, con trai lại chở bà ra chợ mua đồ cho mẻ bánh hôm sau.
Giá bánh của bà là năm nghìn đồng một ổ, ổ nhiều nhân thì bảy nghìn. Ai muốn tiết kiệm thì có ổ bánh không chan nước thịt, hai nghìn đồng. Hồi dịch bệnh, bà chỉ bán ba nghìn. Giá thịt, giá bột lên, bà mới nhích thêm chút đỉnh. Hỏi sao không lên giá nữa, bà nói với phóng viên Dân Trí: lên giá nữa người lao động nghèo khó ăn lắm.
Bà nói với Dân Trí: trừ khi mưa lớn quá tui mới nghỉ. Mưa nhỏ, bà đứng nép dưới hiên nhà người ta mà bán tiếp. Có lần mưa ướt cả lưng bà, một người khách mua hết sạch gánh bánh, chỉ để bà được về nhà sớm. Mình đọc chi tiết ấy mà thấy ấm, vì lòng tốt của bà cũng được người ta trả lại bằng lòng tốt.
Khách của bà có người đã ăn mấy chục năm. Bà Tám, bảy mươi hai tuổi, bạn của bà từ thời con gái, ngày trước bán thịt ngoài chợ. Bà Tám kể: tui ăn bánh mì của bà ấy từ thời còn buôn gánh bán bưng cùng nhau. Ông Doanh, sáu mươi chín tuổi, làm thợ hồ, là khách hơn ba mươi năm. Có thời ông đi làm xa ở Sài Gòn mà vẫn nhớ ổ bánh mì ở đây. Lăn lộn nhiều năm, ông quay về Hiệp An làm, lại ghé gánh bánh của bà.
Phần đông khách của bà là công nhân, học sinh, sinh viên. Báo Tiền Phong kể chuyện anh Nguyễn Văn Lâm, quê Thái Bình, làm ở một công ty gỗ. Anh mới biết gánh bánh mì được vài tháng. Ban đầu anh vẫn trả tiền. Biết hoàn cảnh anh khó khăn, bà không lấy nữa. Anh nói anh ghi nợ trong lòng. Anh kể: mỗi khi nhận lương, người tôi nhớ đến đầu tiên là cụ. Và lần nào anh cũng xin gửi lại bà món nợ cũ.
Chị Nguyễn Thị Mai, quê Sóc Trăng, làm công nhân may, ở trọ tận Bến Cát. Nhà chị năm người. Chị tính, mua ở chỗ khác mười lăm nghìn một ổ thì mỗi sáng mất bảy mươi lăm nghìn. Mua ở gánh của bà chỉ hai mươi lăm nghìn, có hôm bà còn không lấy tiền. Chị nói: thấy cụ tuổi cao còn làm việc thiện, giúp người nghèo, tôi thương lắm, xem cụ như mẹ mình.
Vì sao gần chín mươi tuổi rồi bà vẫn còn gánh bánh? Một người bạn của bà nói với Dân Trí là bà không chịu nghỉ, vì không muốn con cháu phải nuôi. Bà hay nói với khách: bán có lời đủ tui xài hằng ngày được rồi, con cháu không cần phải lo.
Còn báo Tiền Phong và VietNamNet thì ghi rằng bà chỉ lấy lại tiền vốn mua thực phẩm, có lúc không lấy tiền. Bà nói: bà già rồi, ăn uống được mấy mà đi lấy tiền lời của người khó khăn. Hai lời kể nghe như khác nhau. Mình nghĩ thật ra chỉ là một: bà lấy vừa đủ để sống, phần còn lại bà để trong ổ bánh cho người nghèo.
Có lúc bà mệt, muốn nghỉ bán. Con cái cũng khuyên bà ở nhà. Nhưng nghĩ tới những người công nhân sáng sớm ghé qua, bà lại dậy. Bà nói với báo Tiền Phong: còn sức thì giúp người, sau này nằm xuống muốn giúp ai cũng không được.
Năm hai nghìn không trăm hai mươi ba, một người đăng đoạn video về gánh bánh mì lên mạng, nhiều người mới biết tới bà. Họ gọi bà là bà tiên giữa đời thường. Báo VietNamNet kể những lúc đông khách, bà bày thêm một tủ bánh mì ngọt để phát không cho ai cần. Các đoàn thể ở địa phương tới thăm, có người giúp đỡ âm thầm.
Bà còn nói với báo Tiền Phong một câu rất lớn: kiếm tiền để giúp ích cho xã hội, cho những người xung quanh thì cuộc đời mình mới thực sự có ý nghĩa. Câu nói ấy nghe như trong sách. Mà người nói là một bà cụ ngồi bên gánh bánh mì lúc trời chưa sáng.
Mình hay nghĩ tới ổ bánh mì buổi sáng của người lao động. Nó không phải món gì cầu kỳ. Nó là cái để người ta có sức đứng máy suốt buổi, đi hết một ca. Năm nghìn hay mười lăm nghìn đồng, với người dư dả thì chẳng đáng là bao. Với người công nhân ở trọ xa, gửi con ở quê, đó là chuyện của mỗi ngày, ngày nào cũng phải tính.
Mình thích chữ ghi nợ trong lòng của anh Lâm. Một ổ bánh năm nghìn đồng, bà cho không, bà cũng chẳng nhớ. Vậy mà người nhận cứ nhớ, cứ muốn trả, tháng nào lãnh lương cũng nghĩ tới. Báo Tiền Phong gọi bà bằng một cái tên mình thấy đúng lắm: má nuôi của người khó khăn. Ở tuổi gần chín mươi, theo báo, bà vẫn minh mẫn, vẫn tự tay lo từng ổ bánh.
Bà Ngang không có nhiều tiền để làm từ thiện lớn. Bà có đôi tay vo xíu mại, có cái gánh, có đứa con trai chở bà đi lúc bốn giờ sáng. Bà đặt lòng tốt của mình vào đúng chỗ người ta cần nhất: bữa sáng.
Mình không tìm được tin nào mới hơn về bà sau năm hai nghìn không trăm hai mươi ba. Mình mong bà vẫn khỏe, vẫn ngồi đó bên đường Nguyễn Chí Thanh mỗi sáng. Và mong ai đi ngang, có dư một chút, mua giùm bà thêm một ổ cho người đứng sau mình. Tình Ca. Ở đây có bình an.