Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Vợ chồng người lái xe thuê ở Pleiku và ngôi nhà sau rẫy cà phê cho những người bệnh tâm thần bị bỏ lại
Năm hai nghìn không trăm lẻ ba, trên một con đường ở Gia Lai, có một người lái xe thuê dừng xe lại. Bên đường là một chàng trai đi lang thang, một chân bị trói. Người lái xe xuống hỏi han. Chàng trai không trả lời, chỉ lắc đầu. Người lái xe đỡ anh lên xe, chở về nhà mình.
Người lái xe ấy là anh Hà Tư Phước, sinh năm một nghìn chín trăm sáu mươi sáu, ở thôn Ia Rốc, xã Chư Hdrông, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Vợ anh là chị Huỳnh Thị Hạc. Nhà anh chị lúc đó nghèo lắm. Mẹ anh bị mất một chân, không đi lại được. Hai đứa con còn nhỏ. Cả nhà sống nhờ năm sào cà phê và tiền anh chạy xe thuê, chở hàng thuê.
Chị Hạc kể với báo Pháp Luật Việt Nam rằng lúc anh nói sẽ nuôi chàng trai ấy, chị cứ ngỡ anh đang nói đùa. Rồi anh nói một câu, mà về sau báo nào viết về anh chị cũng nhắc lại: gia đình, xã hội đã quay lưng với họ, mình không nuôi thì ai nuôi.
Chị Hạc không chịu. Nhà đã khó, lại thêm một miệng ăn, mà là một người bệnh. Có báo kể chị từng dọa ly hôn, có báo kể chị đòi ra ở riêng. Anh Phước không cãi. Anh đi vay tiền, đào một cái giếng, cất một căn nhà, rồi nhận thêm người. Thấy chồng quyết như vậy, chị thôi giận, rồi xắn tay cùng làm.
Từ một người, thành hai, thành ba. Đi đường, hễ gặp người bệnh lang thang, hay nghe có người bệnh bị nhốt trong nhà, anh lại tìm cách đưa về. Anh nói với phóng viên: do động lòng thương nên tôi xin được đưa về nhà mình nuôi dưỡng. Tiếng đồn đi xa. Có gia đình ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Phú Thọ, rồi cả Thành phố Hồ Chí Minh, đưa người nhà tới gửi anh chị.
Năm hai nghìn không trăm mười một, báo Giáo Dục Việt Nam đăng lại bài của báo Nông Thôn Ngày Nay, kể nhà anh chị đang nuôi mười tám người. Năm hai nghìn không trăm mười sáu, con số là bảy mươi bốn. Tới năm hai nghìn không trăm mười tám, gần một trăm người. Nếu tính cả những người đã khỏe lại, đã về nhà, thì là mấy trăm người. Anh chị cũng không nhớ hết.
Năm hai nghìn không trăm mười tám, phóng viên báo Pháp Luật Việt Nam tìm tới. Ngôi nhà nằm khuất sau rẫy cà phê. Lúc đó chị Hạc đang trở mấy đống rơm bên hông nhà. Chị nói anh Phước đi làm, tối mới về. Anh đi chạy xe kiếm tiền, còn chị ở nhà, vừa làm rẫy, vừa ai thuê gì làm nấy, vừa trông cả nhà người bệnh.
Người đông, anh chị sợ làm phiền hàng xóm. Vậy là cả nhà dọn vào sâu trong rẫy, sau mấy lô cà phê, theo một con đường đất đỏ gồ ghề. Ở đó vắng, yên, người bệnh có chỗ đi lại, lại tránh được xe cộ ngoài đường.
Tiền ở đâu ra? Vẫn là năm sào cà phê, vẫn là chuyến xe thuê của anh Phước. Thuốc men, gạo thóc phần nhiều trông vào người hảo tâm. Từ những năm đầu, đã có người gửi gạo, gửi mì gói tới giúp. Bệnh viện có cấp thuốc điều trị. Nhưng cũng có lúc trong nhà hết gạo, chị Hạc phải đi hỏi mượn hàng xóm, mượn mấy người buôn bán quen.
Ở với người bệnh thì không phải lúc nào cũng yên. Chị Hạc từng lo nhất là người bệnh lên cơn, đập phá, đánh nhau, và lo không đủ tiền nuôi. Vậy mà bây giờ, chị kể, mọi người ở chung đã hòa thuận, ít khi gây gổ. Ăn xong, ai nấy tự dọn chén của mình. Có người rửa chén, có người quét dọn. Rảnh thì đàn, thì hát.
Phóng viên hỏi chị chữa bằng cách nào. Chị nói với báo Pháp Luật Việt Nam: cũng chẳng có phương pháp gì, vợ chồng tôi xem tất cả bệnh nhân ở đây như những thành viên trong gia đình. Còn những người bệnh thì coi nhau như anh em trong nhà.
Năm hai nghìn không trăm mười một, trong nhà có một người đàn ông quê Thái Bình, từng điều trị ở bệnh viện. Ông sáng tác được nhiều bài hát, rồi đứng ra hướng dẫn anh em trong nhà tập văn nghệ. Mình đọc tới đó, cứ hình dung cảnh một buổi tối giữa rẫy cà phê, mấy chục con người từng bị đời bỏ lại, ngồi cùng nhau hát.
Có một anh quê Vĩnh Long, phát bệnh năm mười chín tuổi. Gia đình đưa anh lên gửi anh chị năm hai nghìn không trăm mười một. Bảy năm sau, bệnh anh đã đỡ nhiều, anh tự tắm rửa được, phụ được việc nhà. Có người đã khỏi bệnh mà không về, tự nguyện ở lại phụ giúp. Trong bếp còn có anh Đinh Quốc Huy, quê Quảng Bình, chừng hai năm đứng phụ chị Hạc nấu nướng.
Tết ở ngôi nhà ấy cũng có đủ. Theo trang Eva, chị Hạc lo sẵn lương thực cho năm ngày Tết, mua mấy chục ký nếp gói bánh, mua gà. Anh Phước chạy thêm mấy chuyến hàng, lấy tiền mua quần áo mới cho mọi người. Đêm giao thừa, cả nhà ăn bánh chưng, bánh tét, anh Phước chia bánh kẹo, mứt, hạt dưa.
Chị Hạc nói: dù thế nào cũng cố gắng để cho anh em có một đêm giao thừa ấm áp, sum vầy như ở gia đình mình. Chị còn đi mời hàng xóm sang ăn Tết chung, để bà con hiểu hoàn cảnh người bệnh, đừng xa lánh họ.
Chuyện tốt mà không phải ai cũng hiểu. Có thời có người đồn vợ chồng anh nuôi người bệnh để kiếm lợi. Chị Hạc nói về chồng mình với phóng viên: chồng mình làm việc thiện, mang phước cho đời chớ phải điều gì bất lương. Người ta còn đặt tên cho anh, người thương thì gọi Phước phúc, người không hiểu thì gọi Phước điên.
Anh chị không để bụng. Chị Hạc nói: chúng tôi làm vì cái tâm, người khen hay chê đối với chúng tôi không quan trọng. Năm hai nghìn không trăm mười chín, báo Gia Lai đăng lại câu chuyện, chị nói thêm một câu ngắn thôi: nhiều người xa lánh những người tâm thần, nhưng với vợ chồng tôi thì ngược lại.
Mình tìm mãi mà chưa thấy tin nào mới hơn năm hai nghìn không trăm mười chín về anh chị. Không biết bây giờ ngôi nhà sau rẫy cà phê còn bao nhiêu người, anh Phước còn chạy xe thuê không, hai đứa nhỏ ngày ấy giờ đã lớn ra sao. Nhưng tính tới lúc đó, anh chị đã giữ ngôi nhà ấy mở cửa mười sáu năm.
Mình nghĩ về chàng trai bị trói chân đi bên đường năm đó. Anh không nói được một lời nào, chỉ biết lắc đầu. Biết bao nhiêu chiếc xe đã chạy ngang qua anh. Chỉ có một chiếc xe dừng lại. Và chiếc xe ấy là của một người cũng nghèo, cũng đang lo từng bữa cho mẹ già, con nhỏ.
Người bệnh tâm thần thường là người cô đơn nhất. Người ta sợ họ, tránh họ, có khi chính người nhà cũng mỏi mệt mà buông tay. Anh Phước, chị Hạc không có thuốc thần, không có phương pháp gì. Họ chỉ có một mái nhà, một nồi cơm, và cách gọi người bệnh là anh em trong nhà. Vậy mà nhiều người đã khỏe lại. Tình Ca. Ở đây có bình an.