Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
61 Năm Không Con Cái, Hai Nhà Giáo Già Dắt Nhau Vào Viện Dưỡng Lão - Vẫn Đủ Đầy Vì Có Nhau
Trong một căn phòng nhỏ ở viện dưỡng lão, có hai chiếc vali. Chiếc của ông cụ đựng một cuốn vở tự đóng, bên trong là những bức vẽ phác lại từng tấm ảnh hai vợ chồng đã chụp suốt sáu mươi năm. Chiếc ở đầu giường bà cụ đựng một tập thư dày cộp, bọc cẩn thận trong tấm lụa và mấy lớp túi nilon. Đó là những lá thư ông gửi cho bà, trong những năm tháng họ phải xa nhau. Hai chiếc vali ấy, là cả một đời người. Và hôm nay, Tình Ca xin kể bạn nghe câu chuyện đằng sau chúng.
Trong sáu mươi mốt năm ấy có một lá đơn được viết đi viết lại năm lần. Và lạ thay, chính lá đơn ấy lại là phần đẹp nhất của cuộc hôn nhân này.
Câu chuyện diễn ra ở một viện dưỡng lão tại Đông Ngạc, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội. Một buổi chiều tháng ba, gió trút lá xuống sân. Trên ghế đá, một ông cụ tóc bạc kéo kín khăn choàng cho vợ, rồi khẽ bảo: "Về thôi em". Hai mái đầu bạc thong dong dắt nhau khuất sau dãy phòng.
Ông cụ tên là Nguyễn Ngọc Thọ, khi ấy chín mươi tuổi. Bà cụ là Đinh Thị Dục Tú, tám mươi sáu. Họ cưới nhau năm 1960. Sáu mươi mốt năm vợ chồng. Và suốt sáu mươi mốt năm ấy, họ không có con.
Hãy quay lại những năm năm mươi của thế kỷ trước. Ông Thọ khi đó là thầy giáo trường cấp ba Việt Đức, Hà Nội. Gặp cô giáo trẻ Dục Tú, ông phải lòng ngay từ phút đầu. Chàng thầy giáo trổ hết tài: vẽ tranh, rồi thổi kèn harmonica. Nhưng điều khiến cô gái Hà Nội xiêu lòng lại giản dị hơn nhiều. Sau này, bà chỉ đúc kết về chồng bằng một câu: "Ông ấy vô cùng hiền".
Cưới nhau vài năm mà chưa có tin vui, bà Tú bắt đầu hành trình chạy chữa. Bà tìm đến những danh y hàng đầu, uống đủ loại thuốc. Cơ thể vốn nhỏ bé, sau ba lần làm thủ thuật, bà chỉ còn chưa đầy bốn mươi cân. Xót vợ, ông Thọ quyết định dừng lại. Ông nói một câu mà tôi tin là bạn sẽ nhớ rất lâu: "Không biết có con hạnh phúc đến mức nào, nhưng nhìn mình đau, tôi đang mất dần hạnh phúc".
Nhưng bà Tú thì vẫn dằn vặt. Bà nghĩ mình không thể ích kỷ mà cướp đi hạnh phúc làm cha của chồng. Thế là bà viết đơn ly dị. Vì yêu mà viết. Năm lần bà đưa đơn, là năm lần ông xé vụn trong nước mắt. Lần cuối cùng, ông quả quyết: "Suốt đời này anh chỉ có em là vợ. Em làm thế là xúc phạm anh". Kể từ hôm đó, trong căn nhà ấy, không ai nhắc đến chuyện sinh con hay ly hôn nữa.
Rồi chiến tranh. Có thời gian trường lớp phải sơ tán về nông thôn, hai vợ chồng ở cách nhau bốn mươi cây số. Vậy mà chẳng cuối tuần nào họ không đạp xe đến thăm nhau. Mỗi lần chia tay, người này lại dúi vào tay người kia một lá thư, dặn về tới nơi mới được mở. Nhiều đêm, thầy giáo Thọ đèo vợ trên chiếc xe đạp cọc cạch, vượt những con đường đất tối om về căn phòng trọ nhỏ ở phố Hàng Cân. Họ chia nhau bát phở thời gian khó, một quả chuối bẻ đôi. Ông Thọ bảo: vì gặp nhau trong gian khổ, mà tình thương càng quyện chặt với tình yêu.
Năm 1972, ông chuyển sang làm phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam, theo đoàn nhà văn, nhà báo vào chiến trường Quảng Trị. Vào đến thành cổ, ông bị chảy máu dạ dày, phải cấp cứu ngay dưới hầm. Lúc quay ra, xe ông trúng bom ở bến phà Xuân Sơn, suýt chết. Hai tháng sau, bà mới gặp lại chồng trong bệnh viện. Ông gầy, đen, râu ria tua tủa. Bà kể lại mà rơm rớm: xót xa, nhưng xen lẫn niềm vui, vì sống sót trở về đã là hạnh phúc rồi.
Từ lúc xác định không có con, hai vợ chồng lên một kế hoạch khác cho đời mình. Ông chăm chỉ dạy học, dịch sách, làm thêm. Đến khi nghỉ hưu đầu những năm chín mươi, họ đã có một khoản tích lũy. Và họ làm điều mà nhiều người trẻ bây giờ vẫn mơ: cùng nhau đi vòng quanh thế giới. Hai mươi năm, ba châu lục, mười lăm quốc gia. Bà Tú vẫn nhớ như in chuyến đi năm 1992, hai vợ chồng ngồi thuyền trên sông Nile, một bên là cảnh hoang sơ cổ kính, một bên là phố xá hiện đại, nước sông trong nhìn thấy đáy. Về Hà Nội, họ lại dắt nhau ra sàn khiêu vũ. Nhạc cất lên, ông hóa thành người nam lịch thiệp, bà thành người nữ đoan trang. Qua mỗi bước nhảy, họ tìm thấy sức khỏe, sự dẻo dai, và cả thanh xuân của mình.
Còn chuyện vào viện dưỡng lão? Đó không phải là chuyện chẳng đặng đừng. Đó là kế hoạch ông bà đã tính từ rất lâu, từ ngày xác định không có con. Trước khi vào viện bốn tháng, họ làm hẳn một bữa tiệc từ biệt bạn bè, người thân. Một cuộc chia tay không hụt hẫng, không buồn man mác, mà như lời bài báo viết, là niềm vui về một thứ hạnh phúc viên mãn. Trong viện, ông bà có căn phòng riêng, có người lo cơm nước, chăm sóc sức khỏe. Ông Thọ nói, điều tự hào nhất là cả hai vẫn minh mẫn, vẫn tự chăm được bản thân, vẫn được cùng nhau bình yên đi qua những ngày tháng cuối của cuộc đời. Thỉnh thoảng, ông lại lấy chiếc kèn harmonica ra, thổi bài "Ngày mùa" của nhạc sĩ Văn Cao. Như cái thuở ông thổi kèn để chinh phục cô giáo trẻ năm nào.
Đúc kết sáu mươi mốt năm hôn nhân, hai cụ bảo: vợ chồng sống với nhau, không tránh được lúc cơm chẳng lành canh chẳng ngọt. Nhưng tuyệt nhiên họ không bao giờ to tiếng, không bao giờ để lại ấn tượng xấu trong lòng người kia. Ông Thọ âu yếm nhìn vợ, nói thêm một câu: "Là người đàn ông, không có quyền làm đau khổ phụ nữ, nhất là khi người phụ nữ ấy là vợ mình".
Câu chuyện này được đăng trên báo VnExpress, tháng ba năm 2021, qua ngòi bút của tác giả Phan Dương. Và Tình Ca kể lại với tất cả sự trân trọng dành cho hai cụ.
Bạn biết không, nghe xong chuyện này, tôi cứ nghĩ mãi về hai chữ "đủ đầy". Người đời hay đo hạnh phúc của một gia đình bằng tiếng trẻ con, bằng cháu đàn chắt đống. Nhưng ông Thọ và bà Tú cho tôi thấy một điều khác: hạnh phúc không có khuôn mẫu chung. Có nhà đông con là đủ đầy. Có nhà chỉ hai người, mà sáu mươi mốt năm vẫn đầy ắp thư tay, tranh vẽ, những chuyến đi và những bước khiêu vũ. Cái thiếu, nếu nhìn từ bên ngoài, chưa chắc đã là thiếu, khi người trong cuộc thấy mình đã có nhau.
Và tôi cũng quý cách hai cụ chủ động với tuổi già của mình. Không chờ đợi, không phó mặc. Họ tự chọn điểm dừng chân, tự làm tiệc chia tay, rồi thanh thản bước vào chặng cuối như bước vào một chuyến đi nữa của đời mình. Hóa ra, sống đẹp đến phút cuối cũng là một cách yêu nhau.