Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Bà Sáu bán vé số ở rốn lũ Tháp Mười và hơn hai mươi năm dạy bơi không lấy tiền cho trẻ nhỏ
Ở một con kênh cạn của xã Hưng Thạnh, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, có một người phụ nữ lội xuống nước trước bọn trẻ. Bà lặn xuống, mò dọc đáy kênh xem có vật gì nguy hiểm không. Mò xong, bà cắm cọc tre, rồi căng lưới mùng quanh một khúc kênh. Vậy là thành một cái hồ bơi. Cái hồ ấy không tốn bao nhiêu tiền, còn lớp học trong đó thì không lấy của ai đồng nào.
Người phụ nữ ấy tên là Trần Thị Kim Thia. Bà là người thứ sáu trong nhà, nên ở quê ai cũng gọi là bà Sáu Thia. Có trang báo còn gọi bà bằng một cái tên dễ thương hơn: bà Sáu bơi lội. Bà sống một mình, không chồng, không con. Ngày ngày bà đi bán vé số dạo. Vậy mà hơn hai mươi năm qua, bà đã dạy cho hơn năm nghìn đứa trẻ vùng lũ biết bơi.
Bà sinh năm một nghìn chín trăm năm mươi tám, trong một nhà nghèo ở Gò Công Đông, Tiền Giang. Năm ba mươi bốn tuổi, cha mẹ đều mất, bà lên Hưng Thạnh kiếm sống. Bà làm đủ thứ việc nặng: phụ hồ, đóng cừ, đốn tràm, nhổ cỏ, dặm lúa mướn. Lúc đầu bà ở một cái chòi dựng trên đất mượn. Rồi có một lão nông trong xóm nhận bà làm con nuôi, cho bà miếng đất cất nhà.
Khoảng năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, bà nhận làm công việc của hội phụ nữ ở ấp, phụ cấp hai trăm nghìn đồng một tháng. Chừng đó không đủ sống. Mỗi ngày bà lấy bảy chục tới một trăm tờ vé số đi bán, rồi nhận làm thêm hạt sen, hạt điều. Cuộc sống của bà cứ lặng lẽ như vậy, cho tới khi bà bắt đầu dạy bơi.
Hưng Thạnh nằm ở vùng rốn lũ Đồng Tháp Mười. Nước về mỗi năm, kênh rạch quanh nhà, mà nhiều đứa nhỏ vẫn không biết bơi. Bà nói với phóng viên báo Thanh Niên: tuy sinh ra ở vùng sông nước nhưng nhiều trẻ em quê tôi không biết bơi. Bà kể với báo Pháp Luật Việt Nam: tôi coi tivi thấy nhiều trường hợp trẻ chết đuối mà thương lắm, nên muốn dạy mấy đứa nhỏ biết bơi để tự bảo vệ mình.
Khoảng năm hai nghìn không trăm lẻ hai, xã mở chương trình dạy bơi cho trẻ em, và người ta nhờ tới bà. Bà nhận lời. Bà đi từng ngõ, gõ cửa từng nhà, xin cha mẹ cho con tới học. Lớp đầu tiên chỉ có mười bốn em, tuổi từ sáu tới mười lăm. Về sau mỗi lớp đông dần, mười tám, hai mươi em, rồi hơn nữa.
Cách bà dạy rất mộc. Mười lăm phút đầu cho tụi nhỏ khởi động. Rồi bà cho các em bám cọc tre tập nổi, tập đạp chân. Bà chỉ cách để tay thẳng, cách giữ cằm ngang mặt nước. Bà đỡ từng đứa bằng hai tay, nâng cho nó đạp nước tiến lên. Gần tới đích thì bà buông, để đứa nhỏ tự bơi nốt mấy sải cuối.
Mỗi buổi học chừng một tiếng rưỡi. Lớp mở vào mùa hè, trước khi nước lũ về, mỗi khóa không quá mười lăm ngày. Bà tự tin nói với phóng viên: vào tay tôi là năm ngày là trẻ biết bơi. Theo báo Thanh Niên, có em chỉ ba, bốn ngày đã bơi được một mình. Em chậm nhất cũng chừng mười ngày. Mỗi năm bà mở sáu tới tám lớp, khoảng hai trăm mấy chục em.
Phụ huynh không phải đóng đồng nào, nhà giàu hay nhà nghèo cũng vậy. Xã hỗ trợ bà khoảng ba trăm nghìn đồng mỗi lớp. Bán vé số, mỗi ngày bà lời chừng hai trăm nghìn. Vậy mà bà vẫn để dành tiền vé số, mua đồ bơi tặng học trò. Tới năm hai nghìn không trăm hai mươi ba, số đồ bơi bà mua tặng đã hơn một trăm bộ.
Hỏi vì sao làm vậy, bà nói với báo Người Lao Động: tôi không chồng không con, tôi coi trẻ như con của tôi trong gia đình. Còn với báo Pháp Luật Việt Nam, bà nói một câu mà mình nhớ hoài: tôi không sợ nghèo, không sợ đói, mà chỉ sợ trẻ em không biết bơi sẽ nguy hiểm.
Mình đọc câu ấy mà thấy lạ. Một người bán vé số, sống một mình trong căn nhà dựng trên đất người ta cho, đáng lẽ phải lo cái nghèo cái đói trước. Vậy mà điều bà sợ nhất lại là con nước, và mấy đứa nhỏ không phải con cháu ruột của mình.
Ở xứ ấy, người ta tin bà tới mức có phụ huynh con mới hai, ba tuổi đã tới đặt trước, hẹn vài năm nữa gửi con cho bà dạy. Theo xã Hưng Thạnh, tỷ lệ trẻ biết bơi sau mỗi khóa luôn trên chín mươi lăm phần trăm. Bà nói với báo Thanh Niên: tôi rất tự hào, nhờ biết bơi mà không em nào bị chết đuối.
Năm hai nghìn không trăm mười sáu, một nhà hảo tâm tặng một cái hồ bơi bằng nhựa, đặt ở trung tâm văn hóa học tập cộng đồng của xã. Từ đó bà dạy nhẹ nhàng, an toàn hơn. Nhưng thỉnh thoảng, bà vẫn dắt học trò ra sông, như những ngày cọc tre lưới mùng.
Rồi tên bà đi xa hơn cái xã nhỏ. Năm hai nghìn không trăm mười bảy, bà có tên trong danh sách một trăm phụ nữ truyền cảm hứng của đài Bi Bi Xi bên nước Anh. Năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, tạp chí Forbes Việt Nam chọn bà vào hai mươi phụ nữ truyền cảm hứng. Bà cũng được trao giải thưởng sống đẹp và được khen thưởng nhiều lần.
Sáng ngày đầu năm mới dương lịch hai nghìn không trăm hai mươi bốn, vận động viên bơi lội Nguyễn Thị Ánh Viên về tận Hưng Thạnh. Cô thay mặt hơn một nghìn ba trăm người yêu bơi lội, trao cho bà hai mươi triệu đồng để giữ lớp bơi. Số tiền ấy có được từ một cuộc bơi gây quỹ mười cây số. Lúc đó bà sáu mươi sáu tuổi. Bà nói với báo Thanh Niên: chưa bao giờ tôi có ý định sẽ dừng lại công việc này.
Cái hồ nhựa năm xưa rồi cũng hết hạn, hư hỏng. Tháng tư năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn, một quỹ hỗ trợ tài năng trẻ tặng bà cái hồ mới cùng hơn bốn trăm chiếc kính bơi. Bà vui lắm. Bà nói một câu rất thật: nói thật có cho tôi một trăm triệu, tôi cũng không vui bằng làm cái hồ. Mùa hè năm đó, bà định dạy từ sáng tới chiều, mong giúp thêm hai trăm em biết bơi.
Nhưng tuổi già thì không chờ ai. Mắt bà yếu dần, sức cũng không như trước. Bà bắt đầu đi tìm người thay mình. Bà nói: tôi tìm người có thể tiếp nối tôi dạy bơi cho các cháu. Rồi bà nói thêm: trong lúc địa phương chưa tìm được người, tôi sẽ tiếp tục dạy cho các cháu.
Bà ví mình bằng một hình ảnh rất đời thường. Bà nói với báo Pháp Luật Việt Nam: bản thân tôi như chiếc xe, khi nào máy còn chạy, bánh còn lăn thì còn dạy bơi cho trẻ.
Tin mới nhất mình tìm được là bài báo Công Thương tháng hai năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm. Bài viết kể bà vẫn mong tìm người kế tục, số trẻ học với bà đã hơn năm nghìn em. Một cậu học trò kể: trước đây, em sợ nước, cứ ngụp lặn mãi. Mình không tìm thấy tin nào mới hơn. Mình chỉ mong, nếu bà còn đứng ở mép hồ, thì bà vẫn khỏe.
Mình cứ nghĩ mãi về cái lúc bà buông tay. Đứa nhỏ đang được nâng, bỗng thấy hai bàn tay rời đi, và nó vẫn nổi. Nó tự đạp nốt mấy sải cuối vào bờ. Dạy một đứa trẻ, rốt cuộc cũng là vậy: đỡ nó thật chắc, rồi tới lúc thì buông, để nó tin là mình tự làm được.
Có người cho đi cơm áo, tiền bạc. Bà Sáu cho bọn trẻ một thứ không ai lấy lại được: biết nổi trên mặt nước khi lũ về. Hơn năm nghìn đứa nhỏ ấy giờ có đứa đã lớn, đã có con. Biết đâu một ngày, chính tụi nó sẽ lội xuống kênh, cắm cọc tre, và đỡ cằm cho một đứa nhỏ khác. Tình Ca. Ở đây có bình an.