Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Cô giáo người Mường bán cặp bò hồi môn đóng thuyền, chở học trò qua sông Đà không lấy tiền
Bốn giờ sáng, ở một xóm nhỏ ven lòng hồ sông Đà, có một người phụ nữ tự nhiên choàng tỉnh, không cần đồng hồ báo thức. Cô kể với phóng viên: ngày nào cũng như ngày nào, cứ bốn giờ là choàng tỉnh dậy, không hiểu tại sao. Năm giờ rưỡi, dưới bến đã có mấy đứa học trò ngồi chờ. Chờ cô ra lái đò.
Người phụ nữ ấy là cô Quách Thị Bích Nụ, người Mường, sinh năm một nghìn chín trăm tám mươi bảy. Cô lớn lên ở xóm Nhạp, xã Đồng Ruộng, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình cũ. Xóm nằm giữa lòng hồ sông Đà, đi đâu cũng phải qua sông. Từ xóm sang bờ bên kia mất chừng ba mươi phút đi thuyền.
Hồi nhỏ, cô cũng phải đi học xa, chỉ về nhà dịp Tết và mùa hè. Năm hai nghìn không trăm lẻ năm, cô viết đơn tình nguyện xin dạy hợp đồng ở điểm trường xóm Nhạp, nơi được coi là khó khăn nhất huyện. Điểm trường ấy gần nhà bố mẹ cô. Lương giáo viên hợp đồng khi đó chỉ năm mươi nghìn đồng một tháng.
Về dạy rồi cô mới thấy rõ: phần đông nhà trong xóm nghèo, nhiều nhà không có thuyền. Bố mẹ bận lên nương, có nhà đành để con ở nhà. Cô nói với báo Văn Hóa: cứ thế thì việc học của bọn trẻ sẽ bị gián đoạn, thế là tôi quyết định giúp các em đến trường dễ dàng hơn.
Chiếc thuyền đầu tiên của cô trò là thuyền đan bằng tre nứa, trát xi măng, gắn hai mái chèo. Nó mau hư lắm. Cô kể: đến việc phải thay bao nhiêu chiếc thuyền xi măng bị hư hỏng tôi còn không nhớ.
Khi cô lấy chồng, bố mẹ cho cô một cặp bò làm của hồi môn. Với nhà nông vùng núi, mình nghĩ cặp bò là cả một gia tài. Năm hai nghìn không trăm mười một, cô bán cặp bò ấy, được mười một triệu đồng, góp thêm ít tiền, đóng một chiếc thuyền sắt có gắn máy. Gia đình cô ủng hộ.
Cô nói thật lòng với phóng viên: nói không tiếc cặp bò thì không đúng, vì bố mẹ có thương mới để lại của hồi môn cho mình. Nhưng cô mong tình thương của bố mẹ được san sẻ đều cho những em nhỏ nghèo khó. Mình nghe mà thấy cặp bò ấy như vẫn còn đó, đang kéo một chiếc thuyền chở chữ qua sông.
Việc đưa đón ấy không ai giao cho cô. Cô nói: việc đưa đón các cháu học sinh đi học là hoàn toàn tự nguyện, tôi không yêu cầu gia đình các cháu đóng góp bất cứ thứ gì. Mỗi năm học, ít thì hai em, nhiều nhất mười tám em. Cô bảo cô không nhớ nổi mình đã chở bao nhiêu đứa trẻ, bao nhiêu chuyến đò.
Chồng cô ủng hộ hết lòng. Sáng nào anh cũng dậy sớm kiểm tra máy thuyền cho vợ. Cô nói: thấy chồng tâm huyết như thế, tôi càng tự nhủ phải quyết tâm làm thật tốt.
Sông Đà đâu phải lúc nào cũng hiền. Có buổi tan học, một cái túi ni lông quấn vào máy, thuyền chết máy giữa sông. Cô lao xuống nước gỡ ra. Thuyền nổ máy lại, cô trò về tới nhà trước khi trời tối. Cô kể: nhìn học sinh ngơ ngác lo lắng cho mình, có em còn bật khóc mà tôi thấy vừa yêu, vừa xúc động.
Lúc sóng lớn, học trò ngồi trên thuyền lại thấy vui. Cô nói với báo Tiền Phong: ngồi trên thuyền các em thấy sóng rất thích, còn cô thì lo. Cô kể thêm với báo Văn Hóa: các em vui, tôi không nỡ thể hiện sự lo lắng trên gương mặt. Chỉ khi thuyền cập bờ, cô mới cười tươi được, coi như xong việc của một ngày.
Một chiều mưa bão năm hai nghìn không trăm mười bảy, đúng lúc học trò chuẩn bị xuống thuyền thì trời đổ mưa nặng hạt. Cô kể: vơ vội chiếc mũ đội lên đầu, tôi phi như bay xuống bến. Cuối năm đó, trận lũ lịch sử cuốn mất nhà bè và lồng cá của gia đình cô. Điểm trường phải dời đi xa hơn. Mười bảy em nhỏ có nguy cơ không tới lớp được nữa. Cô lại tình nguyện chở các em mỗi ngày cho tới khi điểm trường mới xong.
Một ngày của cô không chỉ có chuyến đò. Theo báo Tiền Phong, từ năm giờ rưỡi sáng cô đi thuyền chừng ba mươi phút, rồi chạy xe máy hơn mười lăm cây số đường đèo mới tới trường. Một bài báo khác kể rằng có những em sắp bỏ học vì nhà khó, cô tìm cách động viên, chỉ cho gia đình làm giấy tờ xin các khoản hỗ trợ, tìm thêm người giúp để các em đi học tiếp. Cô nói: không thể giúp đỡ các em tiền nộp học, tiền ăn hàng ngày, nhưng cô luôn mong gieo cho các em động lực.
Chiếc thuyền của cô cũng là một lớp học. Trên đó cô dạy các em thơ, bài hát, dạy chuyện làm người, nghe các em kể chuyện nhà. Học trò lớn hơn thì cô dạy luôn cách lái đò, mỗi tuần thay phiên nhau cầm lái, cô ngồi bên sửa từng chút. Trưa tan học, có đứa ghé phòng cô ăn cơm, có đứa ngủ lại. Học trò tự gọi cô là mẹ Nụ.
Có cô học trò tên Ngoan được cô chở đi học suốt tám năm. Sau này Ngoan vào trường sư phạm. Ngoan nói với báo Văn Hóa: nhớ nhất vẫn là những ngày mưa to, gió lớn. Ngoan nói thêm rằng học trò của cô Nụ đều cố gắng học thật tốt để báo đáp công ơn của cô.
Có người gọi cô là cô giáo lái đò, là người hùng thầm lặng. Cô không nhận. Cô cũng chẳng chăm chút gì cho dáng vẻ. Cô cười: lái đò thì cần gì đẹp đâu mà đi giày cao gót. Rồi cô hỏi ngược lại một câu: mình không lái đò thì đường đi học của trò sẽ ra sao?
Đầu năm hai nghìn không trăm hai mươi tư, cô được mời vào Thành phố Hồ Chí Minh nhận vinh danh ở một chương trình bình chọn những người truyền cảm hứng. Đó là lần đầu cô đi máy bay, lần đầu vào Nam. Cô nói: mười tám năm qua tôi chỉ biết dạy học và lái đò. Bước xuống máy bay, trời trong đó ấm áp, cô lại nghĩ tới ngoài Bắc đang rét chỉ bốn, năm độ. Cô nói: các cháu đi học rất khó khăn, vất vả.
Bây giờ cô là hiệu trưởng một trường mầm non trong huyện. Tháng ba năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, Tạp chí Giáo dục viết rằng cô đã đưa đón học trò đều đặn mười chín năm. Lớp mầm non và tiểu học ở xóm đã có điểm trường mới, khỏi phải qua sông. Nhưng học trò lớp năm và trung học cơ sở vẫn phải đi đò, rồi đi thêm một đoạn xe máy.
Cô vẫn nói câu cũ: chưa bao giờ tôi có ý nghĩ vất vả quá thì mình sẽ dừng công việc này, bởi nếu tôi nghỉ các cháu sẽ không được đến lớp. Ước mong lớn nhất của cô, và của bà con trong xóm, là một con đường liên xã, một cây cầu nối xóm. Để cô trò khỏi lênh đênh trên mặt nước mà vẫn tới trường mỗi ngày.
Mình thấy cái mong ước ấy đẹp lắm. Người lái đò mong một ngày không ai cần tới chiếc đò của mình nữa. Cô nói với phóng viên: hạnh phúc lớn nhất của tôi chính là các cháu học sinh trưởng thành, trở thành người có ích.
Có những người mẹ không sinh ra mình, mà vẫn chở mình qua sông mỗi sớm. Một cặp bò hồi môn, một chiếc thuyền sắt, gần hai mươi năm sóng nước. Nếu có dịp đi qua lòng hồ sông Đà, bạn thử nhìn xuống mặt nước lúc năm giờ rưỡi sáng. Biết đâu sẽ thấy một chiếc thuyền nhỏ, chở đầy học trò. Tình Ca. Ở đây có bình an.