Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Hai mẹ con ở Cần Thơ hơn bốn mươi năm chở học trò qua kênh Thị Đội không lấy tiền
Giờ này đã trễ rồi, sao tụi con chưa vào lớp học? Đó là câu một người đàn bà chèo ghe bán hàng hỏi mấy đứa nhỏ đứng bên bờ kênh, vào khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi bốn. Bên kia kênh, tiếng trống vào lớp đã vang. Mấy đứa nhỏ đáp: tụi con không có xuồng để qua sông.
Người đàn bà ấy là cụ Thái Thị Sáng, ở ấp Đông Thạnh, xã Đông Thuận, Thành phố Cần Thơ, trước thuộc huyện Thới Lai. Con kênh là kênh Xáng Thị Đội, rộng chỉ vài chục mét. Vậy mà với đứa trẻ không có xuồng, vài chục mét nước ấy xa như một con sông lớn. Hôm đó cụ chở các em sang. Mấy hôm sau, cụ lại thấy cảnh cũ: trống đã đánh, học trò còn đứng chờ bên này bờ.
Cụ quyết định dựng một cái chòi tạm cạnh bến, vừa bán ít hàng vừa chèo ghe đưa học trò qua kênh. Không lấy tiền. Hồi đó bên kia kênh chỉ có một trường tiểu học. Nhiều nhà nghèo không có xuồng, con nít muốn đi học thì phải chờ ai đó tốt bụng chở giùm.
Mà cụ đâu phải người dư dả. Cụ quê Kiên Giang, về vùng này sinh sống. Chồng cụ mất sớm. Cụ nuôi chín người con bằng nghề bán nước tương, nước mắm trên ghe, chèo khắp các con kênh vùng Ô Môn ngày trước. Cụ kể với phóng viên báo Dân trí: khi ông nhà mất, một tay tôi bồng bế nuôi chín đứa con.
Người nghèo thương người nghèo. Cụ không muốn đứa nhỏ nào phải bỏ học chỉ vì thiếu một chiếc xuồng. Cụ còn giữ xe máy không lấy tiền cho người qua sông, trong khi đưa xe qua kênh hai lượt thường tốn bốn nghìn đồng. Phóng viên báo Dân trí về bến, cụ cũng nói y như với mọi người khách lạ: các chú qua sông nếu không đi xa thì cứ gửi xe ở đây, tôi giữ xe không lấy tiền.
Lúc rảnh, cụ ngồi trong chòi kể chuyện xưa, chuyện học hành cho tụi nhỏ nghe. Người con trai thì giữ xe đạp cho học trò và thầy cô, mỗi ngày năm trăm đồng. Còn học trò và thầy cô qua đò thì cụ không lấy đồng nào. Cái bến nhỏ dần thành chỗ quen của cả xóm.
Trong hơn ba mươi năm, cụ dùng tới bảy, tám chiếc ghe. Mùa nước lũ, con kênh nhỏ trở nên dữ, trên ghe lúc nào cũng để sẵn mấy cái can nhựa phòng khi có chuyện. Báo Dân trí ghi lại rằng suốt chừng ấy năm, bến đò chưa xảy ra tai nạn đáng tiếc nào.
Người con trai thứ tư của cụ là ông Lê Văn Duyên, sinh năm một nghìn chín trăm sáu mươi bốn. Theo báo Thanh Niên, từ năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, khi mẹ đã có tuổi, ông bắt đầu cầm chèo thay mẹ. Khoảng năm hai nghìn không trăm mười, sức cụ yếu, bến đò cũng cần ghe lớn, có phao, có người lái được cấp chứng chỉ. Cụ lên bờ, giao hẳn bến cho ông.
Cụ giao kèm một điều kiện: không thu tiền của học sinh và thầy cô. Ông Duyên giữ đúng lời ấy cho tới bây giờ.
Ông kể lại lời mẹ dặn với phóng viên Đài Truyền hình Việt Nam, bằng giọng miền Tây mộc mạc: bà già nói bây giờ ở đây có trường học, con phải làm sao cho mấy cháu đừng có giống cha mẹ. Rồi ông nói thêm: cha mẹ hồi đó dốt, con cháu bây giờ phải đi học, biết viết, biết chữ.
Với báo Thanh Niên, ông nói gọn hơn: trước đây, tôi không được học hành đến nơi đến chốn nên giờ chỉ mong các cháu đến trường học chữ. Mình đọc câu đó mà thấy thương. Người không được học nhiều lại là người đưa cả nghìn đứa trẻ tới trường.
Cụ Sáng lên bờ nhưng không rời bến. Cụ dựng một cái chòi bán bánh kẹo gần đó để còn được gặp, được nói chuyện với tụi nhỏ. Năm hai nghìn không trăm mười lăm, cụ tám mươi bảy tuổi. Cụ nói với phóng viên: không được chèo đò đưa các cháu học sinh qua sông tôi buồn và nhớ lắm.
Năm hai nghìn không trăm mười bảy, báo Pháp Luật Việt Nam kể về một ngày của ông Duyên. Như một thói quen, gần sáu giờ sáng là ông thức dậy. Mưa hay nắng, sáng chiều hai buổi, ông đều đặn đưa rước học sinh qua sông. Bài báo viết rằng việc ấy dường như đã thành cái nghiệp của ông.
Bây giờ bên kia kênh đã có ba trường: mầm non, tiểu học và trung học cơ sở. Mỗi ngày bến đò chở khoảng một nghìn lượt học sinh, không lấy đồng nào. Người lớn qua đò trả tượng trưng hai nghìn đồng một lượt. Nhờ bến đò, phụ huynh khỏi phải đi đường vòng hơn bốn cây số.
Chiếc ghe cũ do một người hảo tâm tặng đã xuống cấp. Ông Duyên vay ngân hàng bảy mươi triệu đồng, mua một chiếc lớn hơn, chắc hơn, thêm cái máy giá tám triệu đồng. Ông sắm áo phao, phao cứu sinh, bình chữa cháy, đi học lớp an toàn giao thông đường thủy. Ông nói với phóng viên: bến đò này có đầy đủ giấy phép hoạt động, hiện vừa hết hạn đăng kiểm và tôi đang làm thủ tục đăng kiểm lại. Một người chở đò không lấy tiền mà vẫn lo giấy tờ cho đàng hoàng, vì trên ghe là con nít nhà người ta.
Con đường xuống bến hồi trước nhỏ xíu. Ông kể: tôi thấy vậy nên mỗi năm be đất, mở rộng thêm. Ông hiến tám trăm mét vuông đất, mở dần lối đi rộng ra tới bốn mét. Trước nhà, ông dựng một cái nhà chờ nhỏ cho học trò đứng đợi khỏi nắng, khỏi mưa.
Ông Nguyễn Tấn Thạnh, một người dân trong xã, nói với phóng viên Thanh Niên: chú Duyên hiền lành, nhiệt tình lắm. Mưa to hay nước lớn, chú vẫn chở tụi nhỏ, có bữa ướt hết người mà vẫn cười. Rồi ông nói thêm: ai cũng biết ơn gia đình chú.
Năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, cụ Thái Thị Sáng mất, thọ chín mươi bảy tuổi. Từ buổi sáng cụ hỏi mấy đứa nhỏ sao chưa vào lớp, tới lúc cụ đi, đã hơn bốn mươi năm. Cái bến cụ mở bằng một chiếc ghe bán nước mắm vẫn còn đó. Con cháu ông Duyên giờ cũng đã thay nhau đưa đò.
Tháng ba năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu, khi báo Thanh Niên đăng chuyện ông, nhiều bạn đọc viết lời nhắn. Có người nói: nhà nghèo nhưng lòng ông thì quá giàu. Có người tính giùm: chỉ cần thu mỗi em một nghìn đồng thôi cũng đã thành kế sinh nhai, vậy mà ông không thu. Có người viết rằng cụ Sáng đã dạy con cháu một bài học đặc biệt, là cho đi mà không mong nhận lại. Một bạn đọc khác thì lo thực tế hơn, hỏi có ai giúp ông phần tiền lãi khoản vay mua ghe hay không.
Tháng bảy năm đó, phóng viên Đài Truyền hình Việt Nam về bến. Ông Duyên vẫn có mặt từ rất sớm, chuẩn bị áo phao, kiểm tra máy, bắt đầu những chuyến đầu ngày. Ông nói chừng nào bọn trẻ còn cần, bến đò không đồng này vẫn còn chạy.
Mình cứ nghĩ tới mấy cái can nhựa nằm sẵn trên ghe của cụ Sáng năm nào. Nó nhỏ thôi, mà là cả một nỗi lo của người lớn dành cho con nít nhà người ta. Có những cây cầu không làm bằng bê tông. Nó làm bằng một chiếc ghe, một đôi tay chèo, và một lời mẹ dặn con, giữ suốt bốn mươi năm. Tình Ca. Ở đây có bình an.