Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Nồi cơm một trăm sáu mươi ký gạo và hơn ba mươi năm bếp lửa thức sớm cho người bệnh nghèo Sài Gòn
Ba giờ sáng, trên đường Đinh Tiên Hoàng, quận một, Thành phố Hồ Chí Minh, có một căn nhà nhỏ đã sáng đèn. Nhà ngang chỉ hơn ba mét, dài chừng mười lăm mét. Dưới nhà là cái bàn, mấy cái nồi to, những giỏ rau củ chất cao. Một người đàn ông tóc bạc chỉ vào cái thùng lớn, cười nói với phóng viên báo Tuổi Trẻ: cái thùng cơm này nấu được một trăm sáu mươi ký gạo một lần.
Đó là bếp cơm của Chi hội từ thiện Bảo Hòa. Người đàn ông tóc bạc là chú Nguyễn Văn Sáu. Năm hai nghìn không trăm lẻ bốn, chú năm mươi tuổi, trước kia từng là hiệu phó một trường tiểu học. Người nuôi bệnh ở Sài Gòn quen gọi chú là chú Sáu Bảo Hòa. Căn bếp ấy, theo những gì mình đọc được, đã đỏ lửa hơn ba mươi năm.
Chuyện bắt đầu thế nào thì mỗi bài báo kể một phần. Báo Tuổi Trẻ kể về bà Lê Thị Thủy. Bà vào Bệnh viện Ung Bướu thăm mẹ. Ở đó, bà thấy nhiều người bệnh và người nhà nhịn đói, có người phải xin lại phần cơm thừa của người khác. Bà xót lắm. Bà tự bỏ tiền nấu cơm cho cả phòng bệnh, chừng hai mươi người. Rồi bà rủ thêm những người hảo tâm khác cùng làm.
Báo VnExpress năm hai nghìn không trăm lẻ tám thì kể về chú Sáu. Chú thấy bà con hàng xóm ở quê, mỗi lần có người thân lên Sài Gòn chữa bệnh, là chật vật lo từng bữa cơm, từng viên thuốc. Chú đi kêu gọi những người hảo tâm, dựng lên bếp ăn. Mình nghĩ hai câu chuyện không chọi nhau. Một cái bếp lớn như vậy, chắc phải có nhiều người cùng thương một chuyện.
Chi hội ra đời khoảng năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, chín mươi ba. Bà Thủy làm chi hội trưởng, chú Sáu là một trong hai người phó. Họ thuê căn nhà nhỏ ấy, hơn hai triệu đồng một tháng, làm chỗ nấu. Trên lầu là chỗ cho người nấu ngả lưng.
Điều làm mình nhớ nhất là những người nấu. Họ chia làm mười hai nhóm, mỗi nhóm mười mấy người, thay phiên nhau, mỗi nhóm đứng bếp suốt một tháng. Báo Sài Gòn Giải Phóng kể, phần đông là nông dân và các bà nội trợ ở các tỉnh. Lúc nông nhàn, hoặc khi việc nhà tạm yên, họ lên thành phố, ở lại một tháng để nấu cơm cho người dưng.
Một ngày của bếp bắt đầu từ ba giờ sáng. Cơm sôi, canh bốc khói, người ta xúc cơm vào bọc, cột lại, xếp vào thùng. Chín giờ sáng và hai giờ chiều, cơm được mang tới phát. Căn nhà chật và nóng, vậy mà báo tả những người trong bếp lúc nào cũng cười. Chú Sáu nói nóng thì nóng, nhưng ai cũng chịu được, quen rồi.
Năm hai nghìn không trăm lẻ bốn, mỗi ngày bếp nấu khoảng một nghìn ba trăm tới một nghìn năm trăm suất. Riêng Bệnh viện Ung Bướu đã nhận tám trăm suất. Người nhận có bà con các tỉnh, có người bán vé số, có cả người Khmer và người từ Campuchia sang chữa bệnh.
Ở chỗ phát cơm có cô Phi. Cô từng là giáo viên, nghỉ dạy để đi làm từ thiện. Cô nói với phóng viên: chị rất yêu thích công việc này, làm được hơn một năm rồi. Rồi cô quay ra gọi: ai xong đem ra bàn dùm con đi cô bác ơi. Mình đọc câu đó mà thấy như đang ngồi trong một bữa cơm nhà, chứ không phải một hàng người chờ nhận cơm.
Chị Liêm quê Tiền Giang, đang điều trị dài ngày, nói một câu mà báo bảo hầu như ai ở đó cũng nghĩ vậy: không có cơm từ thiện tụi tui không biết phải tính sao nữa. Người bệnh ung bướu thường phải nằm viện bốn, năm tháng. Tiền ăn mỗi tháng bảy, tám trăm nghìn đồng, với nhiều nhà là quá sức.
Bếp không chỉ có cơm. Chi hội còn giúp tiền xe cho người xuất viện về quê, chở người bệnh nặng về nhà, có khi lo cả cỗ áo quan cho người ở tỉnh xa. Chú Sáu lo phần giúp tiền xuất viện. Chú nói một câu rất thật: hồi đi dạy thì cứ theo nguyên tắc mà làm, còn công việc này theo cảm tình nên khó lắm.
Khó, vì tiền góp không đều mà người cần thì nhiều. Hôm ấy phóng viên thấy một bà cụ bảy mươi tuổi ở Đồng Nai xin thêm tiền xe. Bà đã được giúp một lần rồi, chi hội đành từ chối, bà cụ khóc ra về. Chú Sáu thở dài: nhu cầu người bệnh thì quá lớn, khả năng chi hội có hạn, đành chịu vậy. Mình quý bài báo ấy vì nó không giấu chỗ khó. Làm việc tốt đâu phải lúc nào cũng nhẹ nhàng.
Năm hai nghìn không trăm lẻ tám, VnExpress ghi bếp Bảo Hòa nấu chừng một nghìn tám trăm suất mỗi ngày. Có cả một câu lạc bộ yoga ở quận mười một, cuối tháng góp tiền, hẹn nhau từ hai giờ sáng tới bếp nấu cơm. Chị La Thị Trúc ở Đắk Lắk, ba năm nuôi chồng chữa bệnh ở Bệnh viện Ung Bướu, đã ăn cơm của bếp suốt ba năm ấy.
Chị Trúc kể: ban đầu nghe người ta nói có cơm miễn phí, tôi còn ngờ ngợ không tin. Đến khi cầm bọc cơm trên tay, chị mới biết lời đồn về một bếp ăn miễn phí ở Sài Gòn là có thật. Mình hiểu cái ngờ ngợ ấy. Với người từ xa lên, tiền mang theo đếm từng tờ, thì một bọc cơm nóng không ai đòi trả đúng là chuyện khó tin.
Năm hai nghìn không trăm mười bảy, báo Sài Gòn Giải Phóng ghi bếp nấu gần hai nghìn suất mỗi ngày, mang tới ba bệnh viện là Ung Bướu, Chợ Rẫy và Gia Định. Chi hội còn giúp tiền thuốc, tiền xe về quê, mỗi người bệnh nghèo khoảng ba triệu đồng. Một người cha ở Cà Mau có con điều trị hơn hai năm kể, nhờ suất cơm mà vợ chồng anh để dành được tiền lo thuốc cho con. Anh nói gia đình cảm thấy được chia sẻ, ấm lòng.
Còn bây giờ thì sao? Tháng bảy năm hai nghìn không trăm hai mươi sáu, báo Nhân Dân viết về Bếp yêu thương trong khuôn viên Bệnh viện Chợ Rẫy. Đó là một căn bếp chung, chính thức mở từ năm hai nghìn không trăm mười chín. Mỗi ngày phát hơn bốn nghìn suất, do bốn nhóm thiện nguyện cùng lo. Trong bốn cái tên ấy, vẫn có Chi hội từ thiện Bảo Hòa.
Ở đó, cơm phát nhiều lượt trong ngày, không phân biệt người bệnh hay người nuôi, không giới hạn mỗi người mấy suất. Bà Nguyễn Thị Ngà ở Lâm Đồng, gần năm năm đưa con lên chữa bệnh, mỗi đợt nằm viện năm bảy ngày là hai mẹ con ăn cơm của bếp. Một bữa trưa của bà có nấm kho tiêu, canh cải gừng bằm, bông cải xào. Chị Đào Thị Thủy ở Đồng Tháp nuôi ba bệnh tim, nói: nhờ có những suất ăn nóng hổi ở đây, em nhẹ bớt gánh lo.
Một người đại diện của bếp nói một câu mà mình nghĩ ai từng nuôi bệnh cũng hiểu: bà con không ăn no sẽ không có sức khỏe, người thân chưa hết bệnh, người đi nuôi đã kiệt sức.
Mình không tìm được tin mới về bà Thủy hay chú Sáu, không biết hai người giờ ra sao. Nhưng cái tên Bảo Hòa thì vẫn còn đó, sau hơn ba mươi năm. Từ một nồi cơm cho hai mươi người trong một phòng bệnh, tới cái thùng một trăm sáu mươi ký gạo, rồi tới căn bếp chung mấy nghìn suất mỗi ngày.
Mình hay nghĩ tới những người nông dân ấy. Lúc ruộng nghỉ, họ không nghỉ, mà lên thành phố đứng bếp một tháng, ba giờ sáng đã dậy vo gạo, nấu cơm cho những người họ không biết tên. Rồi họ về quê, nhóm khác lên thay. Cứ vậy, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác.
Lần tới, nếu bạn đi ngang cổng một bệnh viện lúc sáng sớm, thấy hàng người cầm cà mèn đứng chờ, hãy nhớ phía sau mỗi bọc cơm là một bếp lửa đã thức từ khi trời còn tối. Tình Ca. Ở đây có bình an.