Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Cậu bé Ấn Độ khóc trước bầy rắn chết trên bãi cát, rồi trồng cây suốt bốn mươi năm thành cả khu rừng
Có một buổi chiều nắng gắt, trên một bãi cát giữa dòng sông lớn, một cậu bé chừng mười sáu tuổi đứng nhìn xuống chân mình. Dưới chân cậu là xác những con rắn. Chúng chết khô vì nắng, vì trên bãi cát ấy không có lấy một bóng cây để mà trốn. Nhiều năm sau, khi đã thành ông già, người đó kể với phóng viên đài phát thanh công cộng của nước Mỹ rằng: lúc nhìn thấy cảnh ấy, mình nghĩ rồi đến con người chúng ta cũng sẽ phải chết như vậy trong cái nóng.
Cậu bé đó tên là Gia-đáp Pa-dêng, viết theo tiếng Anh là Jadav Payeng. Người làng gọi thân là Mô-lai. Ông là người dân tộc Mi-sinh, một cộng đồng nhỏ sống ven sông ở bang A-xam, vùng đông bắc nước Ấn Độ. Nhà nghèo, cha làm nghề buôn trâu, cậu học chưa hết trường đã phải nghỉ.
Con sông trong chuyện này là sông Bra-ma-pu-tra, một trong những con sông lớn nhất châu Á. Giữa sông có hòn đảo Ma-giu-li, từng được xem là đảo sông lớn nhất thế giới. Nhưng nước sông năm nào cũng ăn dần vào đất. Báo địa phương viết rằng từ đầu thế kỷ trước tới nay, hòn đảo đã mất hơn một nửa diện tích. Quanh đảo là những bãi cát bồi, mùa nước thì ngập, mùa khô thì trắng xóa, nóng như rang.
Năm một nghìn chín trăm bảy mươi chín, vùng này gặp lũ lớn, rồi sau lũ là một đợt nóng dữ dội. Nước rút, để lại trên bãi cát rất nhiều rắn và những sinh vật nhỏ chết khô. Mình đọc mấy bài báo kể lại, bài nào cũng nhắc chi tiết đó, vì chính ông Pa-dêng nói đó là lúc đời mình rẽ sang một hướng khác.
Cậu đi hỏi các cụ già trong làng: làm sao cho bãi cát có bóng mát. Các cụ bảo: thì trồng cây đi, trồng tre trước, tre dễ sống. Có bài báo ghi là các cụ khuyên trồng cỏ cao để che cho loài bò sát. Thế là cậu thiếu niên chèo thuyền ra bãi cát, mang theo chừng hai chục cây tre con.
Trồng cây trên cát không giống trồng ngoài ruộng. Cát nóng, khô, không giữ được nước. Ngày nào cậu cũng phải tưới, không bỏ ngày nào. Báo Khaleej Times, một tờ báo lớn ở vùng Vịnh, kể lại một chi tiết mình đọc mà thương: để đất tốt hơn, cậu bắt những con kiến đỏ ở làng, mang bằng tay ra thả xuống bãi cát. Kiến đốt sưng cả tay. Nhưng kiến làm tơi đất, và cây bắt đầu bén rễ.
Tre sống được thì cậu trồng thêm cây gỗ, cây gạo, rồi nhiều loại cây có thể làm thuốc. Ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Không ai trả lương, không ai khen, không ai để ý. Người trên đảo ban đầu còn cho là cậu khờ, đi trồng cây trên chỗ mà ai cũng biết là chẳng trồng được gì.
Phóng viên đài phát thanh công cộng của nước Mỹ theo ông một ngày, khi ông đã gần sáu mươi tuổi. Bà kể ông vẫn dậy từ khoảng bốn giờ sáng, chèo thuyền qua sông gần như mỗi ngày để chăm ruộng rau và chăm khu rừng. Gần bốn mươi năm như vậy. Ông nói ông trồng nhiều tới mức không còn đếm được là bao nhiêu cây.
Rừng lớn lên thì muông thú tìm về. Hươu nai, thỏ, khỉ, đủ loài chim. Rồi một đàn voi khoảng một trăm con năm nào cũng về ở mấy tháng, có năm còn sinh voi con ngay trong rừng. Hổ về. Tê giác một sừng cũng về. Có cả rất nhiều kền kền.
Rừng có thú dữ thì nhà ông cũng chịu thiệt. Gia đình ông sống bằng nghề nuôi bò, nuôi trâu, bán sữa. Ông kể với phóng viên rằng hổ đã bắt mất của ông tám mươi lăm con bò và chín mươi lăm con trâu. Vậy mà ông không giận rừng. Ông nói con người phải học cách sống với rừng, chứ không phải bắt rừng sống theo mình.
Có lần voi phá hoa màu, phá nhà của dân làng gần đó, có người tức giận đòi chặt bỏ khu rừng. Báo Khaleej Times thuật lại lời ông lúc ấy: nếu muốn thì cứ chặt tôi ra từng mảnh, nhưng tôi sẽ không bao giờ để các người chặt cây. Một ông già nghèo, tay trắng, mà nói được câu như vậy, mình nghĩ là vì cả đời ông đã đặt vào mấy hàng cây ấy rồi.
Suốt gần ba mươi năm, gần như không ai ngoài vùng biết tới khu rừng. Phải tới khoảng năm hai nghìn không trăm lẻ bảy, một người chụp ảnh chim tên là Gi-tu Ka-li-ta chèo thuyền ra bãi cát, và anh ngỡ ngàng thấy một khu rừng rậm ở chỗ đáng lẽ chỉ có cát. Anh viết bài. Báo kể rằng lúc đầu biên tập viên còn không tin, tưởng đó là chuyện bịa. Mấy tháng sau bài mới được đăng.
Từ đó tên ông bay đi xa. Năm hai nghìn không trăm mười hai, một trường đại học lớn ở thủ đô Niu Đê-li mời ông lên và gọi ông là Người của rừng của Ấn Độ. Một nhà làm phim người Ca-na-đa làm phim tài liệu về ông, bộ phim được giải ở một liên hoan phim bên nước Pháp. Năm hai nghìn không trăm mười lăm, ông được trao một danh hiệu cao quý của đất nước dành cho người dân có công.
Khu rừng bây giờ rộng khoảng năm trăm năm mươi héc ta. Báo địa phương so sánh rằng nó còn lớn hơn cả công viên Trung tâm nổi tiếng ở thành phố Niu Oóc. Dân làng đặt tên cho nó theo tên gọi thân của ông: rừng Mô-lai. Có sách thiếu nhi kể chuyện ông, được dịch ra mấy chục thứ tiếng, để trẻ con ở nhiều nước biết rằng có một người đã trồng cả khu rừng.
Điều mình thích nhất là ông chẳng hề nhận hết công về mình. Ông nói với tạp chí Mother Jones của nước Mỹ một câu rất giản dị: đâu phải tôi làm một mình. Mình đoán ông nghĩ tới các cụ già đã chỉ cho ông trồng tre, tới con kiến, tới dòng sông. Rồi ông nói thêm về khu rừng: còn nó sống thì tôi còn sống.
Ông có vợ là bà Bi-ni-ta và ba người con. Cả nhà vẫn sống bằng nghề bán sữa như xưa. Những tấm bằng khen, những chuyến đi xa không đổi được nếp sống của ông. Có báo kể ông còn xin các nơi đừng mời ông đi nhận giải vào ba tháng tư, tháng năm, tháng sáu.
Tin mới nhất mình tìm được là vào năm hai nghìn không trăm hai mươi ba. Hãng thông tấn Ấn Độ kể ông đang cùng một nhóm khoảng năm mươi người trồng rừng trên hai nghìn héc ta đất ở chính hòn đảo Ma-giu-li, để voi, tê giác, hươu nai có cái ăn. Ông còn mong trường học ở khắp thế giới dạy trẻ con trồng cây. Ông nói chương trình học ở mọi nơi nên dạy các cháu trồng cây, cho các cháu biết tận tay.
Người ta hay hỏi ông vì sao kiên nhẫn được lâu như vậy. Mình thì nghĩ câu trả lời nằm ngay trong buổi chiều đầu tiên. Một cậu bé thấy những sinh vật nhỏ nhoi chết vì không có bóng mát, và cậu không quay lưng bỏ đi. Cậu ở lại. Rồi ở lại thêm một ngày, thêm một năm, thêm bốn mươi năm.
Mình hay nghĩ tới những cái cây ông trồng năm mười sáu tuổi. Giờ chúng đã cao hơn mái nhà, che bóng cho những con thú mà ông không bao giờ đếm hết. Ông không làm cho cả thế giới xanh lại. Ông chỉ làm cho một bãi cát xanh lại. Nhưng với con rắn, con nai, con voi con sinh ra dưới tán rừng ấy, thì đó là cả thế giới.
Nếu một ngày nào đó mình thấy việc mình làm nhỏ quá, chậm quá, chẳng ai thấy, thì nhớ tới ông già chèo thuyền lúc bốn giờ sáng trên sông Bra-ma-pu-tra. Một cây tre mỗi ngày. Tình Ca. Ở đây có bình an.