Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn

Cô bé mồ côi mẹ giữa mùa dịch và người bà hàng xóm bên kia con hẻm nhỏ quận một

Chiều tối nào cũng vậy. Một cô bé chín tuổi ra đứng trước cửa một căn nhà trong con hẻm nhỏ ở quận một, Thành phố Hồ Chí Minh. Em nhìn sang căn phòng trọ bên kia hẻm, rồi gọi: mẹ ơi, mẹ ơi. Căn phòng ấy không còn ai. Người phụ nữ đứng phía sau em làm như không nghe thấy, để mặc em khóc cho vơi.

Người phụ nữ ấy là bà Hồ Thị Chào, năm mươi sáu tuổi. Cô bé là Quế Anh, đứa con gái nhỏ của người hàng xóm thuê căn phòng đối diện nhà bà. Bà Chào kể lại với phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng: nhiều hôm cứ tối đến là nó ra trước cửa, nhìn sang nhà gọi mẹ ơi, mẹ ơi.

Hôm nay mình kể bạn nghe chuyện hai bà cháu không cùng dòng máu ấy. Một câu chuyện nhỏ của mùa hè năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, cái mùa mà Thành phố Hồ Chí Minh đã đi qua những ngày khó nhất của dịch bệnh. Báo của Đài Tiếng nói Việt Nam ghi lại, chỉ riêng đợt dịch thứ tư, thành phố có hơn một nghìn năm trăm đứa trẻ mồ côi cha, mồ côi mẹ, hoặc mồ côi cả hai. Quế Anh là một trong số đó.

Mẹ của Quế Anh là chị Dạ Thảo. Chị nuôi con một mình. Chị đi làm ca đêm, nên từ hồi Quế Anh còn đỏ hỏn, đêm nào chị đi làm thì đứa nhỏ lại được gửi sang nhà hàng xóm. Theo báo Pháp Luật Việt Nam, người trông bé những đêm ấy là bà Chào và một bà hàng xóm khác là bà Mỹ Dung.

Mình nghĩ tới cảnh ấy mà thấy thương. Một người mẹ trẻ khép cửa phòng trọ lúc trời tối, bế con sang gõ cửa nhà bên kia hẻm. Một bà hàng xóm đón lấy đứa nhỏ, ru nó ngủ. Sáng ra mẹ về đón con. Cứ thế, ngày qua ngày, năm này qua năm khác, cho tới khi đứa nhỏ lên chín tuổi.

Giữa tháng tám năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, chị Dạ Thảo mắc bệnh. Đó là lúc dịch đang ở đỉnh điểm trong thành phố. Chị phải vào viện điều trị. Rồi chị không về nữa.

Ngày chị mất, bà Chào đón Quế Anh sang nhà mình. Bà nghĩ là để trông em mấy hôm, trong lúc tìm cách liên lạc với họ hàng của em. Báo của Đài Tiếng nói Việt Nam kể rằng bà ngoại của em ở xa. Những người thân khác của em cũng đều khó khăn, không dễ gì cưu mang thêm một đứa nhỏ.

Rồi người cậu ruột của em là anh Nguyễn Long Hải đến, xin đón cháu về nuôi. Đó là điều ai cũng nghĩ là hợp lẽ. Nhưng cô bé chín tuổi lắc đầu. Em nói một câu mà báo Pháp Luật Việt Nam còn ghi lại: con ở với bà Chào.

Mình đọc tới đó thì ngừng lại. Một đứa trẻ vừa mất mẹ, giữa bao nhiêu điều không hiểu nổi, lại biết rất rõ mình muốn ở đâu. Em muốn ở lại cái nơi mà từ hồi em còn đỏ hỏn, mỗi đêm mẹ đi làm, em vẫn được bế sang. Với em, bên kia con hẻm chưa bao giờ là nhà người lạ.

Người cậu không giận. Anh để cháu ở lại, cuối tuần lại ghé thăm. Phường nơi em ở đã thuận theo mong muốn của em, và lo làm thủ tục để bà Chào chính thức thành người giám hộ của em.

Bà Chào thì nói về quyết định ấy rất mộc mạc. Bà kể với phóng viên: có con nhỏ, tuổi già của vợ chồng tui cũng đỡ buồn. Bà nói với phóng viên Đài Tiếng nói Việt Nam rằng bà muốn giúp con có một tương lai tử tế, rằng bà đã thương con từ hồi con còn nhỏ xíu.

Mấy tháng đầu là những tháng khó nhất. Chiều tối, Quế Anh lại ra trước cửa, nhìn sang căn phòng cũ mà gọi mẹ. Bà Chào kể, những lúc ấy mà bà hỏi han thì con bé lại càng khóc to hơn. Nên có khi bà phải làm như không biết, để con tự bình tĩnh lại.

Sau này, khi đã nguôi ngoai hơn, Quế Anh mới nói với bà là tại con nhớ mẹ quá, không kiềm chế được. Bà Chào kể lại câu ấy rồi nói một câu ngắn: nghe thương quá.

Mình nghĩ, thương một đứa trẻ đang đau, đôi khi không phải là ôm nó thật chặt. Mà là đứng phía sau nó, đủ gần để nó biết mình không một mình, đủ xa để nó được khóc cho hết. Bà Chào không học ở đâu điều ấy. Bà chỉ là một người bà biết thương.

Những người quanh em cũng góp một tay. Hồi ấy học trò thành phố học trực tuyến, phụ huynh của các bạn cùng lớp đã góp tiền mua cho Quế Anh một chiếc điện thoại để em học. Thầy cô, hàng xóm thay nhau hỏi han. Có một bác sĩ nhận đỡ đầu chuyện học hành của em.

Dần dần, cô bé cởi mở hơn. Báo của Đài Tiếng nói Việt Nam kể rằng từ ngày về ở với gia đình bà Chào, Quế Anh đã vui hơn, còn phụ bà làm việc nhà. Hỏi em lớn lên muốn làm gì, em nói em muốn làm bác sĩ. Em sẽ học thật giỏi, kiếm một công việc tốt, để sau này chăm sóc bà Chào.

Cũng trong bài báo ấy, mình đọc thêm một câu chuyện nữa, giống như một tấm gương soi ngược. Ở quận Bình Thạnh có em Trần Thị Ngọc Thảo, mười ba tuổi. Từ hồi em còn nhỏ, vợ chồng bà Nguyễn Thị Huệ đã nhận em về làm con nuôi. Mùa dịch năm ấy, người cha nuôi của em mất. Bà Huệ làm lao công, mỗi tháng có việc chừng mười ba ngày, mà công việc ấy cũng chưa chắc giữ được.

Bà Huệ nói với phóng viên, đại ý là khó khăn nhiều lắm nhưng bà sẽ cố hết sức. Còn Ngọc Thảo thì nói em muốn nói với mẹ rằng em sẽ học thật tốt, và sau này sẽ giúp mẹ được nhiều nhất có thể. Một đứa trẻ từng được nhận về, giờ hứa sẽ đỡ lấy người đã nhận mình. Mình thấy hai câu chuyện ấy như hai nửa của cùng một tình thương.

Tới tháng mười hai năm ấy, khi báo Pháp Luật Việt Nam đăng lại câu chuyện, Quế Anh đã mười tuổi, vẫn đang ở với ông bà Chào trong con hẻm cũ. Báo Sài Gòn Giải Phóng thì viết thật lòng rằng chưa ai biết tương lai của em rồi sẽ ra sao.

Mình cũng chưa tìm được tin nào mới hơn về hai bà cháu. Nên mình không kể điều mình không biết. Nếu tính theo năm tháng, thì bây giờ cô bé ngày ấy đã là một thiếu nữ đang học trung học. Mình chỉ mong em vẫn giữ ước mơ làm bác sĩ, và bà Chào vẫn khỏe để chờ ngày ấy.

Có những đứa trẻ mất cha mẹ thì được ông bà, cô chú đón về. Có những đứa trẻ, người đón mình về lại là một người hàng xóm, chỉ vì người đó đã thương mình từ những đêm mẹ còn đi làm ca. Máu mủ là thứ trời cho. Còn tình thương thì người ta tự chọn.

Nếu bạn có một người hàng xóm già, chiều nay ghé qua hỏi một câu. Biết đâu, như bà Chào, họ đang mang trong lòng một đứa nhỏ nào đó. Tình Ca. Ở đây có bình an.