Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn

Cậu bé đứng ngoài cửa lớp và người thầy viết bằng chân suốt đời thương học trò như con

Có một cậu bé bảy tuổi đứng nép ngoài sân trường làng. Hai cánh tay cậu buông thõng, mềm như hai sợi dây. Cậu nhìn vào lớp, nghe cô giáo đọc bài, rồi về nhà, ngồi xuống đất, lấy hai ngón chân quặp một mẩu gạch, run run vạch lên nền đất một vòng tròn. Đó là chữ o. Rồi một cái móc nhọn. Đó là chữ v.

Cậu bé ấy về sau đứng lớp hơn ba mươi lăm năm. Học trò của thầy, khi đã thành người lớn, kể với phóng viên rằng việc duy nhất thầy chịu nhờ học trò là cài giúp chiếc khuy áo trước giờ lên lớp. Còn lại, thầy làm hết bằng đôi chân của mình. Hôm nay mình kể cho bạn nghe chuyện thầy Nguyễn Ngọc Ký.

Thầy sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi bảy, ở huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, một vùng quê ven biển. Năm thầy lên bốn tuổi, sau một trận sốt, hai tay thầy liệt hẳn. Báo Lao Động, sau được báo Tiền Phong đăng lại, kể rằng cậu bé hay khóc khi nhìn đôi tay mềm nhũn của mình. Thấy con khóc, cha mẹ cũng khóc theo. Cha mẹ nói một câu mà thầy nhớ suốt đời: mai sau bố mẹ chết đi, con biết làm gì mà sống.

Nhà thầy khi ấy không ai biết chữ. Thầy kể lại: thời đó, cả nhà tôi không ai biết chữ nên chẳng ai dạy cho tôi. Lên bảy tuổi, thấy chúng bạn cắp sách đến trường, cậu bé cứ lân la đứng nhìn vào lớp. Cô giáo cho cậu học thử một buổi. Rồi cô đến nhà, nói với gia đình một câu rất thật lòng: em nó bị liệt hai tay, làm sao viết được mà học. Cô khuyên để em ở nhà, cho các bạn tập trung học.

Mình không trách cô giáo ấy. Ai nhìn một đứa trẻ không cầm nổi cây bút mà chẳng nghĩ như vậy. Nhưng cậu bé thì không chịu. Cậu thử ngậm bút bằng miệng như con chim mổ thóc, không được. Cậu chuyển xuống chân. Ngón chân quặp viên gạch, tập chữ o, chữ v trên nền đất. Rồi tập kẹp bút, viết lên trang vở. Chữ lúc đầu xiêu vẹo, cậu vẫn cứ viết.

Về sau cô giáo cho cậu vào lớp, một phần vì nể gia đình, chứ trong lòng cô vẫn chưa tin cậu viết được. Vậy mà cậu bé ấy học giỏi dần lên. Đến năm một nghìn chín trăm sáu mươi ba, cậu đoạt giải năm kỳ thi học sinh giỏi toán toàn quốc, được khen thưởng. Những năm cấp ba, thư của bạn bè khắp nơi gửi về động viên cậu. Cậu chọn học văn.

Từ năm một nghìn chín trăm sáu mươi sáu đến năm một nghìn chín trăm bảy mươi, thầy học ngành ngữ văn ở Đại học Tổng hợp Hà Nội. Những năm ấy khó khăn, ốm đau nhiều, nhưng thầy vẫn học đến ngày tốt nghiệp. Rồi thầy chọn trở về quê, về Hải Hậu, đứng lớp ngay giữa những ngôi trường đã từng ngập ngừng nhận mình.

Báo VietNamNet kể cách thầy giảng bài. Thầy viết trước nội dung lên những tấm bìa cứng, phủ một lớp giấy trắng bên ngoài. Đến lớp, thầy dùng chân kéo dần tờ giấy, chữ cứ thế hiện ra từng dòng, như mở một tấm màn. Thầy hay ra câu đố bằng thơ cho học trò đoán, lớp học lúc nào cũng rộn tiếng cười.

Năm một nghìn chín trăm tám mươi lăm, anh Vũ Lương là học trò của thầy ở trường cấp hai năng khiếu của huyện Hải Hậu. Nhiều năm sau, khi thầy đã mất, anh ngồi kể lại với báo VietNamNet, bài được báo Thế giới và Việt Nam đăng lại. Đầu mỗi học kỳ, thầy viết tay thời khóa biểu mới, tặng riêng từng đứa học trò. Một tờ thời khóa biểu thôi, nhưng viết bằng chân, cho từng em một.

Sau mỗi đợt ôn đội tuyển, học trò lại kéo nhau về nhà thầy ở xã Hải Thanh. Cô Nhiễu, vợ thầy, luộc sẵn nồi khoai. Thầy pha trà, đọc thơ, kể chuyện. Vườn nhà thầy có ổi, có nhót, có chanh, có quất. Anh Lương nói vườn ấy trồng chủ yếu để dành cho học trò.

Những đợt thầy trò ở chung khu tập thể để ôn thi, thầy dậy sớm nhất. Thầy tập thể dục, rồi đun sẵn nồi nước sôi, để lúc học trò thức dậy là có nước ấm rửa mặt. Anh Lương kể: tôi chưa bao giờ thấy thầy nổi cáu mà lúc nào cũng nhẹ nhàng.

Rồi tới chiếc khuy áo. Thầy từ chối mọi sự đỡ đần, chỉ để học trò giúp đúng một việc là cài khuy áo trước giờ lên lớp. Anh Lương nói, với thầy, nghiêm túc với bản thân dường như là một nguyên tắc bất di bất dịch. Mình nghĩ, chiếc khuy áo ấy là cách thầy cho học trò được thương thầy, mà thầy không thấy mình là gánh nặng.

Một cậu học trò khác là anh Trần Quang Tuấn, nay làm ăn ở Thành phố Hồ Chí Minh. Năm lớp bảy, anh được thầy giao một nhiệm vụ nhỏ. Thầy hay đeo chiếc túi xách chéo qua cổ, mỗi lần thầy vào lớp, anh chạy lên gỡ chiếc túi đặt xuống bàn. Trưa, nhà xa, thầy ở lại ăn cơm cùng giáo viên và học sinh ở ký túc xá, vừa ăn vừa hỏi han từng đứa.

Thầy kể cho học trò nghe chuyện thầy tự tập bơi. Tay liệt, thầy ôm lấy thân cây chuối, đạp chân mà bơi. Anh Tuấn nói những câu chuyện ấy theo anh suốt, thành động lực cho anh. Năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, thầy được phong nhà giáo ưu tú. Khoảng một năm sau, thầy chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh, làm việc ở Phòng Giáo dục quận Gò Vấp, đến năm hai nghìn không trăm lẻ năm thì nghỉ hưu.

Nghỉ hưu rồi mà thầy chưa nghỉ dạy. Thầy đi nói chuyện ở hơn một nghìn năm trăm ngôi trường, theo báo Sài Gòn Giải Phóng. Thầy ký tặng sách bằng cây bút kẹp giữa các ngón chân, gõ máy tính bằng chân để viết hồi ký, viết thơ. Câu chuyện đời thầy được đưa vào sách giáo khoa, nhiều thế hệ học trò lớn lên cùng nó. Có bạn đọc kể hồi nhỏ viết bài văn tả thầy, bị chấm điểm thấp, lời phê rằng chuyện không có thật.

Khi gặp các em nhỏ, thầy không giảng đạo đức. Thầy ngồi trò chuyện như người ông nói chuyện với cháu. Có em hỏi thầy tập viết bằng chân có khó không. Thầy cười, đáp: người không có tay đều làm mọi việc bằng chân mà. Thầy còn dặn: cuộc sống quanh co khúc khuỷu đến đâu, nếu kiên nhẫn, ta vẫn có thể mọc cánh bay lên trời xanh.

Những năm cuối đời, sức khỏe thầy yếu, mỗi tuần phải lọc máu ba lần, vậy mà thầy vẫn đi đến trường này trường kia gặp học sinh. Anh Tuấn hay ghé thăm thầy. Anh nói với phóng viên: trí nhớ của thầy rất tốt, hầu như học trò nào thầy cũng nhớ. Bên thầy những năm ấy là cô Vũ Thị Đậu, người vợ sau, em gái cô Nhiễu, đã thay chị chăm sóc thầy theo lời dặn của chị.

Năm hai nghìn không trăm mười bảy, thầy ra mắt tập cuối bộ hồi ký. Thầy nói với báo Sài Gòn Giải Phóng một câu mà mình thấy gói được cả đời thầy. Cuộc đời tôi bất hạnh khi liệt đôi tay, nhưng tôi may mắn gặp được những người có tấm lòng cao thượng. Thầy nói về những người quanh mình, chứ không nói về mình.

Rạng sáng ngày hai mươi tám tháng chín năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, thầy Nguyễn Ngọc Ký ra đi tại nhà riêng ở Thành phố Thủ Đức, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. Nhà văn Nguyễn Bích Lan viết về thầy trên báo Tuổi Trẻ, nhắc lại một câu thầy từng nói: đôi khi không có cánh cửa nào mở sẵn cho mình, con người ta phải đi tìm một cánh cửa.

Mình cứ nghĩ mãi về cậu bé đứng ngoài sân trường năm ấy. Cánh cửa lớp học ngày đó không mở cho cậu. Cậu tự viết chữ o trên nền đất, tự tìm lấy cửa mà vào. Rồi suốt hơn ba mươi lăm năm, cậu thành người đứng ở cửa lớp, mở cửa cho bao nhiêu đứa trẻ khác, bằng một tờ thời khóa biểu viết tay, một nồi nước ấm buổi sớm, một câu chuyện ôm thân chuối tập bơi.

Có những người thầy dạy ta chữ. Có những người thầy dạy ta rằng thiếu một thứ gì đó chưa bao giờ là lý do để thôi thương người. Thầy Ký là cả hai. Tình Ca. Ở đây có bình an.