Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn

Người trồng đào bên sông Hồng và gần ba mươi năm đưa những người không tên về nơi yên nghỉ

Ngày rằm, ngày mùng một, trên một mảnh đất nhỏ sát bờ sông Hồng ở phường Nhật Tân, Hà Nội, có một người đàn ông đi thắp hương. Không phải một ngôi mộ, mà sáu mươi sáu ngôi. Mộ nào cũng có bát hương, có lọ hoa, chung quanh có hàng rào, quét dọn sạch sẽ. Trên những ngôi mộ ấy không có tên. Người nằm dưới đó, anh cũng không biết là ai.

Người đàn ông ấy là anh Nguyễn Văn Dũng, sinh năm một nghìn chín trăm bảy mươi. Nhà anh làm vườn đào ở làng đào Nhật Tân, nuôi lợn, nuôi gà, trồng rau trên bãi giữa sông. Một bài báo năm hai nghìn không trăm mười bốn gọi anh là người vớt xác nghĩa hiệp. Hàng xóm thì quen gọi anh Dũng.

Anh sinh ra trong một nhà nghèo, học tới lớp bốn thì nghỉ, đi chăn bò ngoài bãi sông. Có lần chơi với bạn, thi nhau lặn xuống lấy bùn, anh bị vướng lưỡi câu của thuyền chài dưới nước. Anh vùng vẫy tới kiệt sức, rồi ngất đi trên bờ. Ai cứu anh, tới giờ anh cũng không biết.

Anh kể với phóng viên rằng trong cơn mê hôm ấy, anh nghe như có ai nói: ta cứu ngươi, nhưng từ nay về sau, ngươi phải cứu người ta. Mình không biết đó là giấc mơ hay là gì. Chỉ biết từ hôm đó, cậu bé chăn bò ấy tâm niệm rằng đời mình phải làm việc thiện để cứu người.

Năm mười ba tuổi, một đêm anh nghe tiếng kêu cứu ngoài sông. Anh chạy ra, nhưng đã muộn. Một mình cậu bé kéo được hai người lên bờ. Sáng hôm sau anh đi báo cho người lớn, rồi tự tay chôn cất họ. Từ đó, năm nào cũng có người trôi về bãi Nhật Tân, và năm nào người ra sông cũng là anh.

Mảnh nghĩa địa nhỏ có từ những năm tám mươi. Theo lời các cụ trong nhà anh kể lại, ngôi mộ đầu tiên là của một cô gái chừng mười tám tuổi trôi dạt vào bãi. Không ai biết tên cô, dân làng gọi là mộ cô Trôi. Về sau, mỗi lần vớt được người không ai nhận, anh lại chôn cạnh cô. Có lúc nghĩa địa có tới cả trăm ngôi mộ.

Có một đêm anh nhớ mãi. Giữa những năm chín mươi, ở xã Phú Thượng có một chuyến đò bị đắm trong mùa lũ. Khoảng ba giờ sáng, anh thấy đồ đạc trôi dọc bờ sông nên đi ngược dòng tìm. Báo Dân Việt kể rằng đêm ấy anh kéo lên gần ba mươi người, chỉ có một người sống sót. Tới bây giờ anh vẫn còn day dứt.

Anh kể với báo Dân Việt rằng một năm khác, có chuyến thuyền chở người đi chợ bị lật trong đêm. Anh nói: một mình tôi vớt sáu mươi người. Anh vớt trong năm ngày mới xong. Mình nghe con số ấy mà không dám nghĩ tiếp, chỉ nghĩ tới một người đàn ông trẻ, năm ngày liền không rời mặt sông.

Việc này không ai trả lương. Anh tự lo tiền mai táng cho người không có thân nhân. Có năm mất mùa, dịch bệnh, anh phải đi vay để lo chôn cất cho người dưng. Anh Việt Anh, người mấy năm sau theo anh cùng làm, kể với phóng viên: anh ấy cũng lạ, bỏ tiền túi ra đi tìm người, rồi bán cả lợn, gà để mua quan tài, xây mộ cho người chết.

Có tiền dư, anh không sửa nhà. Năm hai nghìn không trăm mười hai, anh mua một chiếc ca nô để ra sông cho nhanh. Về sau ca nô cũng bán đi, chỉ còn lại một chiếc thuyền nhỏ. Ai hỏi, anh nói anh đi chơi trên sông, hay đi nuôi gà, trồng rau cho vợ bán. Anh ít khi kể mình đi đâu. Anh kể với báo Dân Việt: vào tầm tháng tư trở đi, mùa nước lên, thậm chí ngày nào cũng có người chết trôi.

Vợ anh là chị Chu Thị Lan. Hai người cưới nhau năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt, có hai con. Có lần anh đi cả tuần liền, chị không lo, vì chị hiểu chồng mình đang làm gì. Chị nói với phóng viên: suốt những năm tháng vớt xác, anh ấy không nhận bất cứ một đồng nào của các gia đình nạn nhân. Có gia đình gửi lại gói bánh, lạng chè, vậy thôi.

Hồi mới làm, có người bảo anh khùng, có người nghĩ anh làm vì tiền. Anh không để tâm. Hỏi vì sao không nhận tiền, anh trả lời: mình làm việc cốt để cái phúc cho con cháu sau này. Mưa hay nắng, ngày hay đêm, hễ có người nhờ là anh đi. Có hôm đang chăm vườn đào, có người gọi báo, anh bỏ đó đi ngay.

Nghĩa địa ấy cũng có những ngày vui, theo một cách rất lặng. Nhiều gia đình nghe người này mách người kia, tìm tới nơi, nhận ra người thân của mình, rồi đưa về quê. Vì vậy mà từ cả trăm ngôi mộ, năm hai nghìn không trăm mười bốn chỉ còn sáu mươi sáu ngôi. Một cán bộ địa phương nói: nhờ có tấm lòng của anh ấy nên nhiều gia đình đã tìm được người nhà của mình.

Có lần phóng viên tới đúng lúc có một cô gái gặp nạn trên cầu Long Biên. Anh nói anh sẽ đợi thêm mấy ngày rồi đi tìm. Rồi anh nhờ chính phóng viên tìm giúp người nhà của cô để báo tin. Lo cho người đã mất, anh cũng lo cho người đang đợi ở nhà.

Trên dòng sông Hồng ấy không chỉ có anh Dũng. Năm hai nghìn không trăm mười lăm, báo Pháp Luật Việt Nam kể về ông Quách Văn Mậu, bảy mươi chín tuổi. Ông sống trên chiếc bè ở bãi giữa sông thuộc phường Ngọc Thụy, cũng hơn ba mươi năm vớt người trôi sông mà không lấy tiền. Có lần ông hô hấp nhân tạo suốt nửa tiếng, cứu sống một cô gái hai mươi lăm tuổi. Gia đình cô biếu mấy triệu, ông không nhận.

Ông Mậu nói một câu mà mình nghĩ cũng là lòng của anh Dũng: thật lòng tôi không cảm thấy sợ mà chỉ thương họ, tội nghiệp cho linh hồn cô đơn. Và: lúc vớt xác rồi thì tôi không bao giờ lấy tiền, nếu lấy tiền đâm ra mất tâm.

Còn anh Dũng, năm hai nghìn không trăm mười bốn, anh nói mình đã đưa lên bờ năm trăm lẻ một người. Ba năm sau, báo Dân Việt ghi con số khoảng sáu trăm. Người lớn tuổi nhất ngoài tám mươi. Người nhỏ nhất là một em bé sơ sinh. Những ngày anh bận, các con anh ra nghĩa địa thắp hương thay cha.

Mình đọc chuyện anh Dũng, cứ nghĩ mãi về chữ tử tế. Người ta thường nói tử tế với người đang sống. Anh thì tử tế với cả người đã mất, những người không ai biết tên, không ai đến đón. Anh không làm cho ai xem, vì những người anh giúp không ai còn nói được lời cảm ơn.

Có lẽ ai cũng sợ một ngày mình đi xa mà không ai hay. Chuyện của anh Dũng cho mình thấy, trên đời này vẫn có người sẵn sàng thắp cho người dưng một nén hương. Nếu có dịp đi qua bãi đào Nhật Tân mùa Tết, mình xin dừng lại một chút, nghĩ tới người trồng đào ấy và những ngôi mộ không tên bên sông. Tình Ca. Ở đây có bình an.