Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Hơn bốn mươi năm dưới chân cầu Bình Lợi, ông lão chài lưới lặng lẽ kéo người lạ trở về
Một đêm mưa lớn, dưới chân cầu Bình Lợi ở Thành phố Hồ Chí Minh, có tiếng người rơi xuống sông. Trên chiếc ghe neo gần đó, một người đàn ông nhảy ùm xuống dòng nước tối. Vợ ông đứng trên ghe, cầm đèn soi theo. Một lúc sau ông ngoi lên, tay kéo theo một cô gái trẻ đã lả đi. Chuyện đó báo Tuổi Trẻ kể lại từ năm hai nghìn không trăm lẻ bảy. Và đó chỉ là một trong rất nhiều đêm như vậy của ông.
Người ta gọi ông là ông Ba Chúc. Ông sinh khoảng năm một nghìn chín trăm năm mươi bảy, gốc miền Bắc, quê Vĩnh Phúc. Khi mới tám, chín tuổi, ông theo cha vào Nam, neo ghe ở khúc sông Sài Gòn dưới chân cầu Bình Lợi, thuộc quận Bình Thạnh. Cha ông làm nghề chài lưới. Từ đó tới nay, đời ông gần như chưa rời khúc sông này.
Cha ông không chỉ đánh cá. Hễ có người chết đuối trên sông, ông cụ lại chèo ghe đi tìm. Ông Ba Chúc kể với phóng viên báo VietNamNet rằng hồi nhỏ đi theo cha, ông sợ lắm. Có lần ông giả bộ đau bụng để khỏi phải đi. Cha ông chỉ nói một câu: nếu con không đi, ai đi với bố bây giờ. Lớn lên, ông hiểu việc cha làm là việc tốt, và ông làm theo.
Năm hai mươi tuổi, ông cưới bà Hinh, người cũng gốc miền Bắc, kém ông hai tuổi. Hai vợ chồng sống kiểu thương hồ ngay trên chiếc ghe. Năm người con gái của ông bà đều sinh ra trên sông nước. Để có thêm thu nhập, ông nhận việc trông đèn báo và phao dưới gầm cầu, chèo xuồng đi gỡ rác vướng vào để tàu thuyền qua lại cho thuận. Thời gian còn lại, ông thả lưới.
Cây cầu ấy, như các bài báo viết, là nơi có nhiều người tìm đến trong lúc quẫn trí. Cũng có người trượt chân, có đứa nhỏ tắm sông bị nước cuốn, có người thợ đang làm trên cầu thì rơi xuống. Ông Ba Chúc nói ngày hay đêm, hễ nghe có người rơi xuống là ông ra. Ông chỉ có chiếc ghe gỗ và một sợi dây thừng dài.
Người ít được nhắc tên hơn là bà Hinh. Theo báo VietNamNet năm hai nghìn không trăm mười ba, mỗi khi ông kéo được người lên ghe, bà là người hô hấp nhân tạo cho những ai nằm bất động. Khi họ tỉnh lại, bà cho họ ăn, cho họ uống để lại sức. Rồi hai vợ chồng ngồi khuyên, đợi người nhà tới đón.
Bài báo năm ấy kể một đêm tháng tư, khoảng nửa đêm, có cô gái nhảy từ cây cầu cũ. Dòng nước đưa cô trôi về phía cây cầu mới, cách chừng hai trăm mét. Đêm đó máy ghe nổ ngay lần giật đầu tiên, ông kịp tới và kéo cô lên. Cô khoảng hai mươi lăm tuổi, quê Vũng Tàu, lên thành phố học nghề rồi gặp chuyện tình cảm trắc trở. Nghe vợ chồng ông khuyên giải, cô hứa không làm điều dại dột nữa.
Không phải đêm nào máy cũng nổ ngay. Chiếc máy ghe đã dùng hơn mười năm, nhiều khi giật mãi không chịu chạy. Những lúc đó ông phải chèo tay, và chèo tay thì chậm hơn nhiều. Người trong xóm từng mong có ai giúp ông một cái máy mới, để ông tới kịp hơn.
Cũng năm đó, vào một đêm cuối tháng năm, có tiếng kêu cứu dưới cầu. Ông tìm thấy một thanh niên đang bám trên ụ chống va của chân cầu, rồi tìm thêm một người nữa nằm trong bãi sình. Hai người ấy nhảy xuống để cứu bạn mình, nhưng đuối sức. Gần ba giờ sáng, ông mới đưa được cả hai vào bờ, cả hai đều còn sống.
Có những chuyện nhỏ mà nghe rất thương. Năm hai nghìn không trăm mười một, ông kể với báo VnExpress về một cậu học trò nhảy cầu vì thách đố nhau rồi đuối nước. Ông kéo cậu lên, thấy cậu run, liền lấy đồ trong nhà cho mặc. Ông nói: tui đã lấy bộ quần áo bà nhà mới mua cho cậu học sinh mặc vào khỏi lạnh. Cậu bé đi rồi không quay lại trả. Ông kể mà cười.
Có một lần ông nhớ mãi. Báo Đầu tư Chứng khoán kể rằng hơn mười năm trước năm hai nghìn không trăm hai mươi, giàn giáo sửa cầu bị sập, một người thợ tên Đức bị nước cuốn đi. Ghe ông chết máy giữa dòng xiết. Ông nhảy xuống, bơi tới chỗ anh, kéo anh về phía ghe. Ông kể: tôi vừa bơi vừa kéo nạn nhân vào gần ghe và lẩm bẩm cầu nguyện. Vào tới bờ, ông sơ cứu cho anh. Về sau, anh Đức nhận ông làm cha nuôi, và gia đình anh vẫn qua lại thăm ông.
Ông không nhận tiền. Với ông, đó là chuyện xuất phát từ cái tâm. Ông nói với báo VietNamNet rằng lấy tiền của người vừa tìm đến cái chết là thất đức, ông chỉ mong để lại chút phúc cho con cháu. Có lần ông nói với một phóng viên khác: tiền bạc thì bao nhiêu tiêu cũng hết, chỉ có cuộc sống và tính mạng của con người là đáng quý nhất.
Kéo được người ta lên rồi, phần khó lại là khuyên. Ông hay nói với họ: con kiến nó còn biết sống huống chi con người. Ông nhắc tới cha mẹ họ, nhắc rằng đời có khó tới đâu cũng phải gắng. Có khi ông chỉ nói một câu thật giản dị: trên đời này chuyện gì cũng có cách tháo gỡ.
Có người đi rồi không quay lại nữa. Cũng có người nhớ. Có người ở xa gọi điện hỏi thăm, dịp Tết có người mang quà tới. Ông kể với báo VietNamNet năm hai nghìn không trăm mười bảy về một người phụ nữ ông từng cứu. Khi con cô đã bốn tuổi, cô quay lại, biếu ông một triệu đồng và hỏi ông còn nhớ mẹ của bé không. Ông nói ông vẫn nhớ.
Bao nhiêu người đã được ông kéo lên, chính ông cũng không nhớ. Năm hai nghìn không trăm mười ba, ông ước chừng gần hai trăm người. Đến năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ghi gần bốn trăm người được cứu sống. Con số mỗi lúc mỗi khác, chỉ có việc ông làm là không đổi.
Cũng có những đêm ông tới không kịp. Sáng hôm sau, ông lại chèo xuồng đi tìm, cắm một lá cờ trắng để tàu thuyền và người câu cá biết mà phụ một tay. Ông muốn người đã mất được về với gia đình. Nhiều gia đình nhờ vậy mà tìm được người thân, rồi sau này vẫn quay lại thăm hai ông bà.
Theo bài viết năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, ông bà sống trong một căn chòi gỗ xiêu vẹo dựng sát bờ sông gần cầu Bình Lợi. Một chiếc cầu gỗ nhỏ chạy từ chòi ra sông, bên dưới buộc chiếc ghe máy. Cá tôm ít dần, ông chuyển sang chở người qua sông, chở người đi thả cá phóng sinh, chở hàng thuê. Con cái ở xa, cũng chưa ai khá giả.
Ông đã ngoài sáu mươi, không còn bơi một mạch qua sông như hồi trẻ. Ông nói: tôi giờ sức khỏe yếu, không vẫy vùng như xưa nên phải có sợi dây để hỗ trợ. Điều ông lo nhất là một ngày mình không còn đủ sức, khúc sông ấy sẽ không có ai canh. Mấy người con từng muốn đón ông bà về ở cùng, nhưng ông bà chưa muốn rời sông.
Từ năm hai nghìn không trăm lẻ bảy, ông đã nói với báo Tuổi Trẻ một câu mà tới giờ nghe vẫn đúng. Ông nói: cuộc sống tuy cơ hàn, nghèo túng thật, nhưng làm được chuyện phúc đức ở đời là vợ chồng tôi vui rồi. Và thêm một câu nữa: còn sống, còn sức là còn thực hiện tâm nguyện cứu người trên con sông này.
Mỗi lần nghĩ về ông Ba Chúc, mình hay nhớ hình ảnh bà Hinh cầm đèn đứng trên ghe. Một người dưới nước, một người trên ghe soi đường. Họ không có gì nhiều, chỉ có chiếc ghe, sợi dây, ngọn đèn và một chén cháo cho người lạ. Vậy mà dưới chân một cây cầu, rất nhiều người đã được kéo trở về với cuộc đời.
Nếu một ngày bạn đi qua cầu Bình Lợi, nhìn xuống mặt sông, xin nhớ rằng ở đó từng có một ông lão chài lưới thức canh. Và nếu có lúc bạn thấy đời mình rối quá, nhớ giùm mình câu của ông: trên đời này chuyện gì cũng có cách tháo gỡ. Tình Ca. Ở đây có bình an.