Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Cô giáo mầm non bỏ lớp vào trại phong, hơn ba mươi năm làm người nhà của người bệnh
Một ngày giữa những năm tám mươi, ở trại phong Quả Cảm, tỉnh Bắc Ninh. Trong góc một căn nhà tối có một ông cụ tám mươi tư tuổi nằm một mình. Không con cháu nào vào thăm. Một người phụ nữ lạ bước vào, tắm rửa cho ông, ngồi nói chuyện cho ông đỡ buồn. Lúc về, chị hứa tuần sau sẽ lại vào. Tuần sau chị vào thật. Nhưng ông cụ đã mất rồi.
Báo VnExpress kể ông được chôn dưới chân núi, không có con cháu đưa tiễn. Người phụ nữ ấy tên là Nguyễn Thị Xuân, khi ấy đang làm cô giáo mầm non. Từ hôm đó, chị không rời được cái trại phong ấy nữa. Khoảng ba mươi năm sau, phóng viên tìm tới, vẫn gặp chị ở đó.
Chị Xuân quê ở huyện Quế Võ, Bắc Ninh, nhà có năm anh chị em. Chị mồ côi mẹ năm ba tuổi, mồ côi cha năm mười tuổi. Lớn lên, chị đi dạy mẫu giáo, ngày ngày bên những đứa trẻ. Báo Tuổi Trẻ kể khoảng năm một nghìn chín trăm tám mươi sáu, chị đọc một bài báo viết về cảnh khổ của người bệnh phong, rồi lặng lẽ tìm vào trại mà không nói với gia đình.
Hồi ấy, bệnh phong bị người ta sợ lắm. Người ta gọi là bệnh hủi, gọi trại phong là trại hủi. Nhiều người bệnh bị co rút tay chân, có người mất cả bàn chân. Họ phải sống tách riêng, ít ai dám tới gần, có người ở trong trại gần như cả đời.
Từ sau lần gặp ông cụ, ngày nghỉ nào chị cũng lén vào trại. Chị bế, cõng người bệnh đi tắm. Chị đút từng thìa cơm, thìa cháo. Chị dọn dẹp cho cả những người không tự đi lại được. Chị nói thật với phóng viên VnExpress: tôi cũng sợ lắm. Sợ nhất là cái mùi trong những phòng bệnh có vết thương lâu ngày. Nhưng chị vẫn đi.
Báo Asia Times, dẫn lại tin của Việt Nam News, ghi rằng chị rất đau lòng khi thấy những người bệnh phong phải chịu khổ như vậy. Nỗi đau ấy không làm chị bỏ chạy. Nó giữ chị lại. Mình nghĩ nghề cũ của chị là dạy những đứa trẻ tập đi, tập nói. Ở trại phong, chị bắt đầu một việc gần giống thế: giúp người lớn tập sống lại cho ra sống.
Người thân không hiểu. Họ bảo chị gàn dở, bảo chị thần kinh. Bạn bè, hàng xóm cũng can, có người còn chế giễu. Một cô giáo đang yên ổn, sao lại tự bỏ vào trại hủi. Chị buồn, nhưng không quay lại. Chị xin thôi dạy, đi học trung cấp y ở Quy Nhơn để làm y tá.
Báo Tuổi Trẻ kể một chi tiết mình rất thích. Khi chị đi học nghề y, tất cả người bệnh trong trại cùng ký một lá đơn, xin cho chị được về làm y tá chính thức ở trại. Những người bị đời xa lánh, giờ cùng nhau viết đơn để giữ lại một người.
Học xong, chị phải chờ hơn một năm mới được phân công. VnExpress viết rằng hồi đó ít ai tin có người tự nguyện xin vào trại phong. Chị không ngồi chờ. Chị đi qua nhiều tỉnh, tìm được mười một trại phong, ở lại chăm người bệnh ở từng nơi. Theo báo Việt Nam News, năm một nghìn chín trăm chín mươi hai, chị chính thức là y tá ở Quả Cảm.
Ở trại, chị thấy những người bị cụt chân phải chống hai tay mà lết đi. Có người ngã, trầy xước cả người. Chị xin đi học làm chân giả. Năm một nghìn chín trăm chín mươi mốt, chị vào Thành phố Hồ Chí Minh học gò sắt. Một cô giáo mầm non, giờ đứng bên đe, bên búa.
Bảy năm sau đó, chị làm hàng trăm cái chân giả cho người bệnh ở Quả Cảm và các trại quanh vùng. Năm một nghìn chín trăm chín mươi chín, chị lại đi Quy Nhơn học làm dép chỉnh hình, cho những bàn chân đã biến dạng bước đi êm hơn. Mỗi cái chân, mỗi đôi dép, là thêm một người tự đứng dậy được.
Báo Tuổi Trẻ viết chị vừa học từ lớp, vừa tự mày mò thêm. Có những thứ chị làm ra giúp người bệnh không chỉ đi lại được, mà còn cầm nắm đồ vật dễ hơn. Mình nghĩ, với người lành, cái chân giả chỉ là miếng sắt, miếng gỗ. Với người bệnh phong, đó là được tự bước ra sân phơi nắng, tự đi lấy bát cơm, không phải ngồi chờ ai.
Ngoài việc y tá, chị còn nấu ăn, giặt giũ cho người bệnh. Chị lo cả chuyện nhà cửa, chuyện cưới hỏi, chuyện ma chay trong trại. Chị vận động xây hơn năm trăm ngôi mộ cho những người mất mà không còn ai nhận. Mình đoán chị vẫn nhớ ông cụ tám mươi tư tuổi năm nào, nằm dưới chân núi không người đưa tiễn.
Có một việc nghe lạ: chị Xuân làm mai. Chị đi qua các trại phong ở những tỉnh phía bắc, gặp người bệnh trại này, trại kia, rồi se duyên cho họ. Báo chí kể chị đã giúp nhiều đôi nên vợ nên chồng. Chị còn tìm người giúp đỡ, để trại có tiền nước mắm hằng tháng, để con của người bệnh có học bổng, từ tiểu học tới sau đại học.
Ông Bích, một người bệnh quê Thanh Hóa, sáu mươi tám tuổi khi phóng viên gặp, kể chị từng chăm ông lúc ông bệnh nặng. Chị giúp ông lập gia đình, lo cho con ông đi học, đưa ông đi viện khi ông đau dạ dày. Ông nói với báo VnExpress: nhờ cô Xuân cứu giúp mà cuộc đời tôi mới được thế này.
Còn chị thì sao? Ông giám đốc bệnh viện kể với phóng viên rằng chị không lập gia đình, dành cả đời cho người bệnh phong. Người trong trại gọi chị là chị Xuân, cô Xuân. Chị kể với báo chí rằng mình chưa bao giờ thấy cô đơn, vì trại là nhà, người trong trại là gia đình.
Năm hai nghìn không trăm mười hai, chị tới tuổi về hưu. Ai cũng nghĩ chị sẽ về nghỉ. Chị xin ở lại, ngày đêm vẫn ở trại chăm người bệnh như trước. Chị nói với báo Việt Nam News rằng mình vẫn còn đủ khỏe để làm. Rồi chị nói thêm một câu nghe mà vui: tôi chưa bao giờ ốm quá nửa ngày.
Hỏi vì sao bỏ cả nghề dạy học để vào đây, chị trả lời: tôi chỉ thấy đó là việc mình phải làm, còn rất nhiều người bệnh cần được giúp. Rồi chị nói về những người chị chăm suốt mấy chục năm: tình thương của họ cho tôi sức mà làm tiếp.
Trong trại có bà Hoàng Thị Các. Theo báo Việt Nam News, bà đã sống ở trại hơn sáu mươi năm. Bà viết hẳn một bài hát để cảm ơn chị Xuân. Mình chưa được nghe bài hát ấy. Nhưng mình nghĩ, một người sống hơn sáu mươi năm trong trại phong mà vẫn muốn cất tiếng hát cảm ơn, thì người được hát tặng hẳn đã làm được nhiều điều lắm.
Tin gần nhất mình tìm được là đầu năm hai nghìn không trăm mười chín. Khi ấy chị Xuân đã gắn bó với Quả Cảm khoảng ba mươi năm, đã quá tuổi hưu mấy năm, vẫn ở lại với người bệnh, coi họ như ruột thịt.
Mình cứ nghĩ mãi về lời hứa tuần sau sẽ lại vào. Ông cụ không đợi được. Có lẽ chị Xuân đã giữ lời hứa ấy theo một cách khác: không với ông nữa, mà với hàng trăm người đến sau ông. Chị vào, rồi ở lại luôn.
Có người làm nghề y vì được phân công. Có người vào nghề vì một lần đứng trước nấm mộ không ai đưa tiễn. Lần tới, nếu mình biết có ai đang nằm một mình trong một góc tối, thử ghé vào, hứa một câu, và quay lại sớm hơn một chút. Tình Ca. Ở đây có bình an.