Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Bà bán rau ở chợ Đài Đông hơn nửa thế kỷ, lặng lẽ để dành tiền giúp trẻ nghèo và người bệnh
Hai giờ rưỡi sáng. Chợ trung tâm Đài Đông, ở miền đông Đài Loan, còn tối om. Một người đàn bà đã có mặt ở sạp rau của mình. Bà là người tới chợ sớm nhất, và về sau cùng. Mỗi năm bà chỉ nghỉ một ngày. Đêm về, bà ngủ dưới sàn nhà, để khỏi quá êm mà dậy không nổi.
Bà tên là Trần Thụ Cúc, tên tiếng Hoa đọc là Chen Shu-chu. Bà sinh năm một nghìn chín trăm năm mươi ở huyện Vân Lâm. Lên bảy tuổi, bà theo cha mẹ dời về Đài Đông, cả nhà ở trong một căn chòi lợp tranh. Cha mẹ bà sống bằng nghề bán rau.
Rồi cả nhà gặp may. Báo Taipei Times kể, khi chợ trung tâm Đài Đông mới xây xong, nhà bà bốc thăm trúng một sạp rau ở vị trí ai cũng mong. Nhưng chỉ mấy tuần sau, mẹ bà mất khi sinh đứa con thứ bảy. Ca sinh khó, cần mổ. Cha bà chạy vay mượn khắp nơi, nhưng tiền về thì đã muộn. Bà khi ấy mười ba tuổi.
Là con gái lớn, bà thôi học sau bậc tiểu học, ra chợ phụ cha bán rau, thay mẹ chăm các em. Báo Taipei Times ghi có những ngày bà nhịn ăn. Bà nhớ lại với báo Inquirer của Phi-líp-pin: lúc ấy, tôi thấy người ta coi thường người nghèo.
Mấy năm sau, nhà lại gặp chuyện. Một cậu em trai của bà lâm bệnh khi mới mười một tuổi. Bác sĩ ở Đài Đông không tìm ra bệnh, khuyên đưa lên bệnh viện lớn ở Đài Bắc. Cha bà lại đi vay, mà vay không đủ. Thầy giáo của cậu bé đứng ra quyên góp khắp trường. Tiền gom được, nhưng cậu bé vẫn không qua khỏi.
Chuyện ấy ở lại trong lòng bà suốt mấy chục năm. Không chỉ vì nỗi mất mát, mà vì tấm lòng của những người dưng ngày ấy. Bà nói với báo Inquirer: vì hồi nhỏ tôi đã được người ta giúp, nên giờ lúc nào tôi cũng nghĩ tới người khác trước khi nghĩ tới mình.
Từ đó bà làm việc không ngơi tay. Bà lo cho các em đi học tới trung học, lên đại học. Bà không ham ăn mặc, không ham sắm sửa. Mỗi ngày bà ăn hai bữa, ăn chay. Một bài báo năm hai nghìn không trăm mười hai ghi bà sống với chừng một trăm Đài tệ một ngày, tức khoảng ba đô la Mỹ. Bà giải thích: nếu giữ nhiều tiền trong túi quá, mình dễ bị cám dỗ tiêu vào những thứ không cần.
Bà không lập gia đình. Có lần người ta hỏi sao bà ở chợ tới khuya vậy, bà chỉ đáp: ở nhà có ai chờ đâu. Bà phụ nuôi ba đứa cháu trai. Tiền dành dụm cứ thế lớn dần.
Đầu những năm chín mươi, cha bà mất. Năm một nghìn chín trăm chín mươi ba, theo ý nguyện của cha, bà góp một triệu Đài tệ cho một ngôi trường. Ít năm sau, bà bắt đầu đỡ đầu trẻ em ở một mái ấm cho trẻ mồ côi tại Đài Đông, về sau góp thêm cho nơi ấy một triệu Đài tệ.
Báo Taipei Times kể, những năm ấy bà hay mất ngủ. Có đêm bà khóc, có khi bà ra ngồi bên mộ mẹ. Rồi bà gặp những đứa trẻ ở mái ấm. Bà nói: mỗi lần thấy nụ cười của các em, lòng tôi mở ra. Từ bên trong dâng lên một niềm vui đầy đặn không tả được, và từ đó tôi luôn ngủ được, ngủ sâu, ngủ yên. Rồi bà nói thêm một câu mình rất thích: được ngủ ngon là phần thưởng tốt nhất.
Bà cũng không quên ngôi trường tiểu học Nhân Ái, nơi thầy cô năm xưa từng quyên tiền cho em trai bà. Bà góp tiền lập quỹ giúp những học trò nhà gặp biến cố, rồi góp tiền xây cho trường một thư viện. Bà không muốn ai biết. Bà nói: tôi chưa bao giờ kể với ai chuyện mình làm, vì đó là chuyện riêng của tôi.
Nhưng một phóng viên địa phương nghe được chuyện cái thư viện, tìm tới. Bà từ chối phỏng vấn. Cuối cùng chuyện của bà vẫn lên trang nhất. Bà nói: bỗng dưng ai cũng biết.
Năm hai nghìn không trăm mười, tạp chí Forbes đưa bà vào danh sách bốn mươi tám người làm từ thiện tiêu biểu ở châu Á. Hai ngày sau, tạp chí Time của Mỹ chọn bà vào danh sách một trăm người có ảnh hưởng nhất năm. Bà chưa từng nghe tên tạp chí ấy. Người viết lời giới thiệu bà là một đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Đài Loan, mà bà cũng không biết ông là ai.
Bà nói: tôi chưa bao giờ hiểu sao người ta chọn tôi. Tôi chỉ là một người bán rau bình thường, nhỏ bé. Có vô số người nổi tiếng hơn tôi, cho nhiều hơn tôi gấp mười, gấp hai mươi, có khi gấp trăm lần. Tạp chí Time dẫn lại một câu bà từng nói với báo: tiền chỉ có ích khi được dùng cho người cần nó.
Bà miễn cưỡng sang Mỹ dự buổi vinh danh, mặc lại bộ quần áo mua từ nhiều năm trước. Ở bên ấy, bà vẫn ngủ dưới sàn để sáng dậy sớm. Về tới nhà, bà không nghỉ ngày nào. Sáng hôm sau, bà lại ra sạp rau.
Năm hai nghìn không trăm mười hai, bà được trao một giải thưởng lớn ở Phi-líp-pin dành cho những người phụng sự cộng đồng ở châu Á. Năm mươi nghìn đô la Mỹ tiền thưởng, bà gửi hết cho một bệnh viện ở Đài Đông. Bà nói: tôi chỉ là một người bình thường, một người bán rau khiêm tốn. Tôi chỉ làm những gì mình làm được, hết sức mình.
Đầu năm hai nghìn không trăm mười tám, bà bị viêm ruột thừa, phải mổ gấp. Sạp rau đóng cửa. Bà nghỉ hưu, về Cao Hùng tĩnh dưỡng, giao sạp lại cho người em trai. Cuối năm ấy, bà tặng hai hợp đồng bảo hiểm nhân thọ trị giá mười sáu triệu Đài tệ cho hai bệnh viện ở Đài Đông, để sau này giúp người bệnh nghèo.
Năm hai nghìn không trăm hai mươi mốt, bà làm một việc bà ấp ủ suốt đời. Bà tặng một hợp đồng bảo hiểm mười lăm triệu Đài tệ, lập quỹ giúp những sản phụ nghèo được khám thai, được sinh nở an toàn, và giúp những đứa trẻ có mẹ mất khi sinh. Quỹ mang tên mẹ bà. Bà nói với hãng thông tấn trung ương Đài Loan: cách sống tốt nhất là làm cho xong điều mình muốn làm. Tôi đã đợi năm mươi chín năm để điều ước này thành sự thật hôm nay.
Tháng sáu năm hai nghìn không trăm hai mươi lăm, bà bảy mươi tư tuổi. Một trường đại học ở Đài Đông trao cho bà bằng tiến sĩ danh dự. Người bán rau học hết tiểu học đứng trên bục, mở lời: tôi không đi học bao nhiêu, nói giọng địa phương, có gì sai mọi người bỏ qua. Bà kể nghe tin được trao bằng, bà suýt ngất. Bà cảm ơn cha mẹ, cảm ơn bà của mình, cảm ơn thầy cô thời tiểu học, và cảm ơn cả thầy giáo của em trai năm xưa. Rồi bà dặn các tân cử nhân: chịu đựng vượt qua được, thì cái đó là của mình.
Mình nghĩ tới cái sạp rau lúc hai giờ rưỡi sáng. Một người mất mẹ vì nhà không đủ tiền vào viện. Mất em vì tiền gom không kịp. Người ấy có đủ lý do để giữ thật chặt từng đồng. Vậy mà bà lại chọn mở tay ra. Bà không cho để được khen. Bà cho để đêm về ngủ yên, và để không đứa trẻ nào phải mất mẹ như bà ngày trước. Tình Ca. Ở đây có bình an.