Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Ba mươi cây cầu lũ cuốn trôi và cây cầu cuối cùng ông lão Vạn Buồng đi xin từng đồng để xây
Năm hai nghìn không trăm mười hai, ở một xóm nhỏ giữa sông Thu Bồn, có một ông cụ đứng bên cây cầu bê tông mới đúc, nhìn đám học trò đạp xe qua. Báo Tuổi Trẻ kể ông cụ đã khóc. Cây cầu ấy dài hơn tám mươi mét. Nhưng với ông, đó là cây cầu thứ ba mươi mốt. Ba mươi cây cầu trước, ông đã dựng lên, rồi đứng nhìn nước cuốn đi.
Ông cụ tên Nguyễn Tráng, một người nông dân ở thôn Phú Bông, xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Báo Công An Nhân Dân gọi ông là người nông dân chân lấm tay bùn. Tháng chín năm hai nghìn không trăm mười lăm, khi báo VnExpress tìm tới, ông tám mươi tư tuổi. Ông sống ở xóm Vạn Buồng.
Vạn Buồng là một xóm bị sông Thu Bồn bao quanh, người ta gọi là ốc đảo. Đất liền ở ngay trước mặt, mà muốn qua thì phải đi đò. Đò lại chỉ chạy được vào mùa khô. Báo VnExpress viết: không có cầu, người dân phải dùng đò, tai nạn liên tục, và đò cũng chỉ hoạt động vào mùa khô.
Báo Tuổi Trẻ tả cù lao Vạn Buồng nằm ở chỗ sông Thu Bồn tách làm hai nhánh. Muốn nối xóm với đất liền, phải bắc cầu qua nhánh sông phía nam, rộng hơn tám mươi mét nước. Mùa khô thì hiền, mùa lũ thì nước bạc cuồn cuộn. Cây cầu nào dựng tạm trên khúc sông ấy cũng phải đánh cược với con nước mỗi năm.
Không có cầu, nông sản làm ra khó bán, thương lái ép giá. Mùa lũ, trẻ con nghỉ học. Báo Tuổi Trẻ kể có người chết đuối trên đường tới trường, có người bệnh không kịp đi cấp cứu. Thanh niên lần lượt bỏ làng vào Nam làm ăn. Cái xóm nhỏ cứ vắng dần.
Gần bốn mươi năm trước, ông Tráng bắt đầu nghĩ tới chuyện làm một cây cầu. Báo Tuổi Trẻ viết, khi bắt đầu, ông gần như không có đồng nào. Ông cũng chẳng phải kỹ sư. Ông chỉ có đôi chân chịu đi và cái miệng chịu xin. Cây cầu đầu tiên, ông xin những thanh ray xe lửa cũ bỏ đi, xin thêm tôn, rồi cùng bà con lắp lại.
Cầu sắt đứng chưa được bao lâu. Báo Công An Nhân Dân kể kẻ trộm cưa dần sắt đem bán ve chai. Phần còn lại rỉ sét, rồi lũ về cuốn mất, chỉ vài tháng sau. Ông lại đi xin tre trong xóm, dựng một cây cầu tre. Cầu tre đứng được chưa đầy một năm.
Cứ thế, cầu này trôi thì ông làm cầu khác. Tre, gỗ, phao, đủ thứ vật liệu. Báo VnExpress đếm được ba mươi cây cầu tạm, trong khi chú thích ảnh của chính bài ấy lại ghi ba mươi mốt. Mỗi cây cầu là một mùa đi xin, một mùa hì hục dựng, rồi một mùa lũ.
Cây cầu bền nhất là chiếc cầu phao làm năm hai nghìn, từ gần tám mươi triệu đồng ông xin được của các nhà hảo tâm. Nó đứng được khoảng sáu năm. Sáu năm, so với mấy tháng của cây cầu sắt hay chưa đầy một năm của cây cầu tre, đã là dài lắm. Rồi một mùa lũ nữa, nó cũng đi theo dòng Thu Bồn.
Năm hai nghìn không trăm lẻ sáu, ông lên huyện xin kinh phí làm cầu. Báo VnExpress kể lúc ấy huyện chỉ có dự án cầu treo, mà cầu treo không hợp với vùng đất cát đồng bằng, nên việc không thành. Năm hai nghìn không trăm lẻ chín, theo báo Tuổi Trẻ, ông còn đi kêu gọi làm một con đường bê tông dài ba cây số, nối Vạn Buồng với vùng Gò Nổi bên huyện Điện Bàn.
Năm hai nghìn không trăm mười một, ông đã ngoài tám mươi. Ông quyết định thôi làm cầu tạm. Ông nói với báo VnExpress: đó là năm hai nghìn không trăm mười một, tôi muốn làm một cây cầu cuối cùng cho dân làng bởi mình cũng đã yếu rồi. Ông sợ một ngày mình không còn nữa, cái xóm cũng không còn ai ở.
Một cây cầu bê tông thì tốn cả tỷ đồng. Xóm thì nghèo. Báo VnExpress kể nhiều người bảo ông điên. Ông đi kêu gọi trong xóm, lúc đầu chỉ gom được vài trăm nghìn đồng. Báo Tuổi Trẻ ghi về sau, bà con trên cù lao góp được gần năm mươi triệu.
Ông khăn gói vào Thành phố Hồ Chí Minh. Ông tìm tới từng người quen, kể chuyện cái xóm giữa sông. Ông ngồi viết thư gửi những người ở nước ngoài. Báo Tuổi Trẻ kể có những người không quen biết, đọc thư rồi gửi về bốn mươi, năm mươi triệu đồng. Báo VnExpress kể có một gia đình góp tới năm mươi triệu đồng. Hơn nửa năm, ông xin được gần một tỷ đồng. Huyện hỗ trợ thêm hơn ba trăm triệu.
Tiền xin được, ông không giữ. Báo Tuổi Trẻ kể ông lập một ban xây cầu gần mười người, toàn người có chức việc trong thôn, trong xã, rồi giao hết tiền cho ban. Ông chỉ giữ một việc cho mình: ngày nào cũng ra công trường, đứng nhìn từng trụ cầu mọc lên khỏi mặt nước.
Tháng chín năm hai nghìn không trăm mười hai, sau năm tháng thi công, cây cầu bê tông hoàn thành. Tổng kinh phí một tỷ ba trăm triệu đồng. Theo báo VnExpress, cầu dài tám mươi tư mét, rộng hai mét ba. Đó là lúc ông đứng nhìn học trò đạp xe qua cầu, và khóc.
Hơn ba trăm người dân trong vùng đề nghị lấy tên ông đặt cho cây cầu. Ông từ chối. Ông nói với báo Tuổi Trẻ: cây cầu này xây nên nhờ công sức của bà con và các nhà hảo tâm, tui có làm chi mô mà lấy tên đặt cho cầu.
Từ khi có cầu, cái xóm như sống lại. Báo Công An Nhân Dân kể tiểu thương vào tận xóm thu mua, nông dân không còn bị ép giá, cha mẹ bớt lo mỗi lần con đi học. Ông Trần Tấn Công, trưởng thôn Phú Bông, nói với báo VnExpress rằng từ khi có cầu, không ai trong xóm rời đi nữa. Ông bảo: dân số đang tăng nhanh sau nhiều năm tưởng chừng như sắp bị xóa sổ. Anh Thái Nương, bốn mươi tuổi, người trong xóm, cũng nói với phóng viên về lòng biết ơn của cả xóm dành cho ông.
Đời riêng của ông Tráng thì lặng lẽ. Vợ ông đã mất. Người con trai của ông bị liệt, và ông vẫn chăm con. Báo Công An Nhân Dân kể, khi ông đã già yếu, bà con trong xóm thường tới nấu nướng, dọn dẹp giúp ông. Cái xóm ngày trước ông nối với đất liền, giờ quay lại đỡ đần ông.
Mình không tìm được tin nào mới hơn về ông Tráng sau năm hai nghìn không trăm mười lăm. Đầu năm hai nghìn không trăm hai mươi ba, một bài viết du lịch trên báo Đà Nẵng tả lại Vạn Buồng: nhìn từ xa, chiếc cầu nhỏ bắc qua sông vào làng như một vạch kẻ dài thẳng tắp. Cây cầu vẫn ở đó.
Mình nghĩ hoài về con số ba mươi. Ba mươi lần làm, ba mươi lần mất. Người ta thường bỏ cuộc ở lần thứ ba, thứ năm. Ông Tráng thì cứ dựng lại, như thể con nước lì bao nhiêu, ông lì hơn một chút. Báo Tuổi Trẻ viết ông cho rằng mình đã sống một đời không uổng phí. Mình nghĩ ông nói đúng.
Có những người cả đời không đứng tên trên cái gì cả. Nhưng mỗi sáng, có đứa trẻ đạp xe qua một cây cầu, tới trường mà không ướt áo. Tình Ca. Ở đây có bình an.