Tình Ca kể chuyện · Những câu chuyện nhân văn
Ông cụ chống nạng ở Hải Phòng hơn mười năm tự nguyện giữ chắn tàu nơi người làng gọi là cửa tử
Điện thoại trong căn nhà nhỏ cạnh đường sắt reo lên. Một giọng nữ báo lịch tàu. Ông cụ trong nhà nghe xong, với lấy chiếc nạng gỗ, leo lên chiếc xe máy điện, chạy ra giữa đường. Ông thổi còi, phất cờ. Xe máy, ô tô dừng lại. Ít phút sau, đoàn tàu ầm ầm chạy qua, rồi xa dần.
Ông cụ ấy tên Nguyễn Văn Xá, sinh năm một nghìn chín trăm bốn mươi sáu, ở thôn Dụ Nghĩa, xã Lê Thiện, huyện An Dương, Hải Phòng. Chỗ ông đứng là một đoạn đường dân sinh cắt ngang tuyến đường sắt Hà Nội đi Hải Phòng, sát quốc lộ năm. Ông cười, kể với báo VnExpress: ở đây họ gọi tôi là barie chạy bằng cơm.
Ông bị bại liệt từ năm bảy tuổi. Hai chân teo, cả đời phải dựa vào chiếc nạng. Hồi trẻ ông làm may vá, rồi vào làm ở một xí nghiệp. Lương của ông cộng với lương giáo viên của vợ, nuôi ba người con ăn học. Tới khi mắt kém, sức yếu, ông xin nghỉ hưu, tưởng sẽ an hưởng tuổi già.
Làng Dụ Nghĩa nằm sát quốc lộ năm. Muốn vào làng phải băng qua đường sắt. Chỗ ấy không đèn, không người gác. Người trong vùng gọi nó là cửa tử thần. Báo Lao Động kể mỗi năm ở đó có một, hai người chết, có năm ba, bốn người. Dân làng còn nhớ một người công nhân, một em học sinh. Và một đứa cháu nhỏ trong họ nhà ông.
Ông nói với VnExpress: không ít lần tôi chứng kiến người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh. Những đám tang ấy cứ ở trong đầu ông, không đi đâu được.
Năm hai nghìn không trăm lẻ chín, ông vừa sáu mươi ba tuổi. Ông giấu cả nhà, viết đơn xin địa phương cho ra đứng gác chỗ ấy. Vợ ông, bà Đào Thị Yên, nghe tin thì ngỡ ngàng. Bà hỏi: ông hết việc để làm rồi à? Bà lo, vì ông đi lại khó, chỗ đó lại vắng vẻ. Hàng xóm cũng không tin, có người còn cho rằng ông rảnh việc, nói bừa cho oai.
Được xã đồng ý, ông tự cắm cọc gỗ, quây tấm bạt làm cái chòi. Vài hôm sau, ông sơn một cây tre dài thành thanh chắn hai màu trắng đỏ. Báo Lao Động kể bà con trong làng phụ ông làm thêm cái ròng rọc để kéo. Lúc đầu ông ngồi trong chòi, nghe tiếng còi tàu từ xa, rồi chống nạng ra hạ thanh tre xuống.
Những tháng đầu ông mất ngủ, sụt cân. Ông chưa quen lịch tàu, chưa quen tiếng xe cộ ầm ầm ngoài quốc lộ suốt đêm. Con cháu thương, giục ông về làng. Ông nói với báo Lao Động: nhưng bỏ qua tất cả khó khăn đó, tôi vẫn quyết tâm gác trụ.
Thấy chồng không đổi ý, bà Yên thôi can. Bà ra ở cùng, chăm ông, rồi thay phiên ông gác. Bà Quỳnh bán nước cách đường sắt chừng năm trăm mét kể với VnExpress: hai ông bà chưa bao giờ bỏ trống trạm gác. Nhà ai có đám cưới, đám giỗ, thì người này đi, người kia ở lại.
Lâu dần ông thuộc giờ tàu như thuộc giờ cơm. Mỗi ngày có tám chuyến tàu khách, mười chuyến tàu hàng. Ông nói: tàu khách chạy nhanh, phải hạ barie trước năm phút, còn tàu hàng chậm nên chỉ cần hạ trước hai phút. Ông ghi lịch tàu vào một cuốn sổ tay nhỏ, để ai cần tra là có ngay.
Năm hai nghìn không trăm mười bảy, phóng viên báo Lao Động tới thăm. Ông mời khách vào căn nhà vài mét vuông, đang nói chuyện thì nhìn đồng hồ, dặn: các cháu chờ ông chút nhé, lại sắp có chuyến tàu khách qua rồi. Điện thoại bàn reo, ông chống nạng ra cửa, thổi còi, kéo sợi dây qua cái ròng rọc cho thanh chắn hạ xuống. Thêm một chuyến tàu nữa chạy qua an toàn.
Gác tàu gần mười năm, ông gặp đủ chuyện dở khóc dở cười. Phần nhiều là người đi đường, nhất là mấy cậu thanh niên, cứ muốn băng qua cho nhanh. Ông tự nhận mình là người gác tàu duy nhất không công trên tuyến đường sắt Hà Nội đi Hải Phòng. Ông nói việc này dính tới tính mạng người dân quê mình, nên nó thành một phần đời ông rồi.
Ông trực từ năm giờ sáng tới chín giờ tối. Mưa, nắng, hay những hôm ông ốm, thanh chắn vẫn được kéo đúng giờ. Báo Lao Động kể có người thoát chết trong gang tấc, về sau quay lại xin lỗi, cảm ơn ông. Những lúc ấy ông vui lắm, vì biết mình vừa giữ lại được một người.
Hơn năm năm đầu, ông làm không lương. Hai ông bà sống bằng đồng lương hưu ít ỏi của bà và tiền trợ cấp của ông. Năm hai nghìn không trăm mười bốn, ông được thành phố hỗ trợ một khoản nhỏ mỗi tháng, và được xây cho căn nhà nhỏ chừng mười hai mét vuông thay cái chòi bạt, có điện thoại bàn để nhận tin báo tàu. Ông cũng được khen thưởng nhiều lần.
Tuổi cao, những hôm trở trời, con cháu không ở bên, ông thấy tủi thân, nhớ nhà. Con cháu khuyên ông: lúc còn khỏe thì ăn cơm nhà vác tù và hàng tổng được, giờ tuổi cao rồi, về nhà mà nghỉ. Báo Lao Động ghi ông cũng muốn về làng sống với con cháu, nhưng lại sợ điểm gác tàu một ngày không có người trông nom sẽ mất an toàn. Thế là ông lại ở.
Mùa dịch bệnh, tàu khách giảm từ tám chuyến xuống còn hai, có lúc tàu ngừng chạy mấy tháng liền. Ông vẫn ra trực. Đường ray vắng, ông thấy trống trải. Ông nói: còn tàu là tôi còn trực, không kể ít nhiều.
Đầu năm hai nghìn không trăm hai mươi hai, khi VnExpress tìm tới, ông bảy mươi sáu tuổi, đã gác được mười ba năm. Ông không kéo thanh chắn nữa, mà chuyển sang đứng giữa đường, cầm cờ, thổi còi. Ông nói: tôi liệt hai chân, không thể đi ra giữa đường, nên mua cái xe điện để di chuyển.
Người đứng đầu xã nói với VnExpress rằng từ khi có ông, tai nạn giảm hẳn. Gần đây chỉ còn va quẹt nhẹ, không còn ai chết. Xã đang tìm người thay để ông được nghỉ bên con cháu. Ông thì nói: chỉ khi tìm được người kế nhiệm tôi mới dám nghỉ, còn không tôi vẫn trực chốt ở đây đến hơi thở cuối cùng.
Mình chưa tìm được tin nào mới hơn về ông sau năm ấy. Ông còn gác không, đã có người thay chưa, mình không biết. Mình chỉ mong ông khỏe, và mong chỗ ngã tư ấy giờ đã có người đứng thay, hay có đèn báo đàng hoàng.
Mình cứ nghĩ hoài về cái tên barie chạy bằng cơm. Một thanh chắn bằng sắt thì không biết mệt, không biết rét, không biết thương ai. Còn ông thì biết hết. Biết mệt, biết rét, biết tủi thân những hôm trở trời. Vậy mà ông vẫn ra, vì ông đã thấy cái giá của mấy phút lơ là. Một người cả đời đi bằng nạng, lại đứng ra giữ đường cho những người đi bằng đôi chân lành lặn.
Ông nói với báo Lao Động một câu mình muốn giữ lại: chỉ cần nhìn dòng người qua lại tuyến đường an toàn là tôi đã đón niềm vui lớn nhất cuộc đời. Lần tới, khi bạn dừng xe chờ tàu, chờ đèn, đừng sốt ruột quá. Ở đâu đó có người đã chống nạng mười mấy năm, chỉ để người ta chịu dừng lại mấy phút. Tình Ca. Ở đây có bình an.