Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người
Bàn Tay Ngài Như Cánh Chim Trên Vai Tôi
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe bốn người kể: Si-môn người Ky-rê-nê, người đã vác thập giá cho Ngài; bà Cyborea, mẹ của Giu-đa; một người đàn bà thành Byblos khóc thương Ngài; và Maria Mác-đa-la, ba mươi năm sau.
Si-môn người Ky-rê-nê.
Tôi đang trên đường ra đồng thì thấy Ngài vác thập giá của mình; và đoàn người đông đảo đi theo sau Ngài.
Rồi tôi cũng đi bên cạnh Ngài.
Gánh nặng ấy làm Ngài phải dừng lại nhiều lần, vì thân thể Ngài đã kiệt sức.
Rồi một người lính Rô-ma tới gần tôi, nói: "Lại đây, anh khỏe mạnh, vạm vỡ; vác thập giá của người này đi."
Nghe những lời ấy, lòng tôi dâng lên, và tôi thấy biết ơn.
Và tôi vác thập giá của Ngài.
Thập giá nặng, vì nó làm bằng gỗ bạch dương đã ngấm đẫm mưa mùa đông.
Chúa Giê-su nhìn tôi. Mồ hôi trên trán Ngài chảy xuống râu.
Ngài lại nhìn tôi và nói: "Cả anh nữa, anh cũng uống chén này sao? Quả thật, anh sẽ cùng Ta nhấp nơi miệng chén này cho tới tận cùng thời gian."
Nói rồi, Ngài đặt tay lên bên vai còn trống của tôi. Và chúng tôi cùng nhau đi về phía đồi Sọ.
Nhưng lúc ấy tôi không còn thấy sức nặng của thập giá. Tôi chỉ còn thấy bàn tay Ngài. Và bàn tay ấy như cánh một con chim đậu trên vai tôi.
Rồi chúng tôi tới đỉnh đồi, và ở đó người ta sắp đóng đinh Ngài.
Và lúc ấy tôi mới thấy sức nặng của cây gỗ.
Ngài không thốt một lời khi họ đóng đinh vào tay chân Ngài, cũng không phát ra một tiếng nào.
Và tay chân Ngài không run lên dưới nhát búa.
Dường như tay chân Ngài đã chết, và chỉ sống lại khi được tắm trong máu. Vậy mà dường như Ngài cũng tìm tới những cây đinh như một hoàng tử tìm tới cây vương trượng; và Ngài khao khát được nâng lên chốn cao.
Lòng tôi không nghĩ tới chuyện thương xót Ngài, vì tôi đã quá đầy ngỡ ngàng.
Giờ đây, người mà tôi đã vác thập giá cho, đã trở thành thập giá của tôi.
Nếu người ta lại nói với tôi: "Vác thập giá của người này đi," tôi sẽ vác nó cho tới khi con đường của tôi dừng lại ở nấm mồ.
Nhưng tôi sẽ xin Ngài đặt tay lên vai tôi.
Chuyện ấy xảy ra đã nhiều năm; vậy mà mỗi khi tôi đi theo luống cày ngoài đồng, và trong phút mơ màng trước khi chìm vào giấc ngủ, tôi luôn nghĩ tới Con Người Yêu Dấu ấy.
Và tôi cảm thấy bàn tay có cánh của Ngài, ở đây, trên vai trái của tôi.
Bà Cyborea, mẹ của Giu-đa.
Con trai tôi là một người tốt và ngay thẳng. Nó dịu dàng, tử tế với tôi, nó thương họ hàng và đồng bào mình. Và nó ghét kẻ thù của chúng tôi, bọn Rô-ma đáng nguyền rủa, bọn mặc vải đỏ tía mà không hề kéo một sợi chỉ, không hề ngồi bên một khung cửi nào; bọn gặt hái nơi chúng không cày, cũng không gieo hạt.
Con tôi mới mười bảy tuổi thì bị bắt khi đang bắn tên vào đạo quân Rô-ma đi ngang qua vườn nho nhà tôi.
Ngay từ tuổi ấy, nó đã nói với những đứa trẻ khác về vinh quang của Ít-ra-en, và nó nói ra nhiều điều lạ lùng mà tôi không hiểu.
Nó là con tôi, đứa con trai duy nhất của tôi.
Nó đã bú sự sống từ đôi bầu vú giờ đã khô này, và nó đã chập chững những bước đầu tiên trong khu vườn này, nắm lấy những ngón tay giờ đây run như những cọng sậy này.
Cũng chính đôi bàn tay này, hồi ấy còn trẻ trung, tươi mởn như những chùm nho Li-băng, tôi đã cất đôi dép đầu tiên của nó trong một chiếc khăn lanh mẹ tôi cho. Tôi vẫn giữ chúng trong cái rương kia, bên cửa sổ.
Nó là con đầu lòng của tôi, và khi nó bước bước đầu tiên, tôi cũng bước bước đầu tiên của tôi. Vì đàn bà không đi đâu cả, trừ khi được con mình dẫn đi.
Giờ người ta nói với tôi rằng nó đã tự kết liễu đời mình; rằng nó đã gieo mình từ Tảng Đá Cao vì hối hận đã phản bội bạn mình là Giê-su thành Na-da-rét.
Tôi biết con tôi đã chết. Nhưng tôi biết nó không phản bội ai cả; vì nó thương họ hàng mình, và không ghét ai ngoài bọn Rô-ma.
Con tôi tìm vinh quang cho Ít-ra-en, và ngoài vinh quang ấy, chẳng có gì khác trên môi nó và trong việc nó làm.
Khi gặp Giê-su trên đường cái, nó bỏ tôi mà đi theo người ấy. Và trong lòng tôi biết rằng nó đã sai khi đi theo bất cứ người nào.
Khi nó từ biệt tôi, tôi đã nói với nó rằng nó sai, nhưng nó không nghe.
Con cái chúng ta đâu có nghe chúng ta; như con nước lớn hôm nay, chúng không hỏi ý con nước lớn hôm qua.
Tôi xin bạn đừng hỏi tôi thêm gì về con tôi nữa.
Tôi đã thương nó, và tôi sẽ thương nó mãi mãi.
Nếu tình thương nằm trong da thịt, tôi đã lấy sắt nung đỏ mà đốt nó đi để được yên. Nhưng nó nằm trong linh hồn, không với tới được.
Và giờ tôi không muốn nói thêm nữa. Hãy đi hỏi một người đàn bà khác, được kính trọng hơn mẹ của Giu-đa.
Hãy tới gặp mẹ của Giê-su. Lưỡi gươm cũng đâm trong tim bà; bà sẽ kể cho bạn nghe về tôi, và bạn sẽ hiểu.
Người đàn bà thành Byblos.
Hãy khóc với tôi, hỡi các con gái của Ashtarte, và hết thảy những ai yêu Tamouz.
Hãy để tim các người tan ra, dâng lên, và tuôn thành những giọt nước mắt máu,
Vì Người được làm bằng vàng và ngà nay không còn nữa.
Trong khu rừng tối, con lợn rừng đã quật ngã Người,
Và nanh của con lợn rừng đã đâm thủng da thịt Người.
Giờ Người nằm đó, vấy những chiếc lá của năm xưa,
Và bước chân Người sẽ không còn đánh thức những hạt mầm đang ngủ trong lòng mùa xuân.
Tiếng Người sẽ không còn theo bình minh tới bên cửa sổ tôi,
Và tôi sẽ mãi mãi một mình.
Hãy khóc với tôi, hỡi các con gái của Ashtarte, và hết thảy những ai yêu Tamouz,
Vì Người Yêu Dấu của tôi đã thoát khỏi tay tôi;
Người đã nói như những dòng sông nói;
Người mà tiếng nói và thời gian là hai anh em sinh đôi;
Người mà đôi môi là một nỗi đau đỏ thắm đã hóa ngọt ngào;
Người mà trên môi, mật đắng cũng hóa thành mật ong.
Hãy khóc với tôi, hỡi các con gái của Ashtarte, và những ai yêu Tamouz.