Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người

Hãy Coi Cái Lồng Có Đủ Rộng Cho Đôi Cánh Này

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe hai người kể: Claudius, viên đại đội trưởng người Rô-ma đã canh giữ Ngài đêm Ngài bị bắt, và Gia-cô-bê, anh em của Chúa, kể lại bữa tối cuối cùng và đêm trong vườn ô-liu.

Claudius, một viên đại đội trưởng người Rô-ma.

Sau khi Ngài bị bắt, người ta giao Ngài cho tôi. Tôi được Phong-xi-ô Phi-la-tô ra lệnh canh giữ Ngài cho tới sáng hôm sau.

Lính của tôi giải Ngài đi như giải một người tù, và Ngài vâng theo họ.

Nửa đêm, tôi rời vợ con, đi tới kho binh khí. Tôi vẫn có thói quen đi một vòng, coi mọi sự trong các đơn vị của mình ở Giê-ru-sa-lem có yên ổn không; và đêm ấy tôi ghé kho binh khí, nơi người ta giữ Ngài.

Lính của tôi và mấy người trẻ Do Thái đang lấy Ngài ra làm trò đùa. Họ đã lột áo Ngài, và đội lên đầu Ngài một vòng gai bện từ bụi gai khô của năm ngoái.

Họ cho Ngài ngồi dựa vào một cây cột, rồi nhảy múa, la hét trước mặt Ngài.

Và họ đã đưa cho Ngài một cây sậy để cầm trong tay.

Khi tôi bước vào, có người hét lên: "Thưa chỉ huy, xem kìa, vua dân Do Thái đây."

Tôi đứng trước mặt Ngài, nhìn Ngài, và tôi thấy hổ thẹn. Tôi không biết vì sao.

Tôi từng đánh trận ở xứ Gaul và ở Tây Ban Nha, cùng lính của mình đối mặt với cái chết. Vậy mà chưa bao giờ tôi sợ hãi, chưa bao giờ tôi hèn nhát. Nhưng khi tôi đứng trước người ấy và Ngài nhìn tôi, tôi mất hết can đảm. Dường như môi tôi bị niêm lại, và tôi không thốt ra được một lời nào.

Lập tức tôi bỏ ra khỏi kho binh khí.

Chuyện ấy xảy ra đã ba mươi năm. Các con trai tôi, hồi đó còn là trẻ thơ, giờ đã thành người lớn. Và chúng đang phục vụ Xê-da và phục vụ Rô-ma.

Nhưng nhiều lần, khi khuyên bảo chúng, tôi đã nói về Ngài, một người đối mặt với cái chết mà nhựa sống vẫn còn trên môi, và trong mắt vẫn có lòng thương xót cho những kẻ giết mình.

Giờ tôi đã già. Tôi đã sống đầy đủ những năm tháng của đời mình. Và tôi thật lòng nghĩ rằng cả Pôm-pê lẫn Xê-da đều không phải là vị chỉ huy lớn bằng con người xứ Ga-li-lê ấy.

Vì từ cái chết không chống cự của Ngài, một đạo quân đã trỗi dậy từ lòng đất để chiến đấu cho Ngài. Và Ngài, dù đã chết, được họ phục vụ tận tình hơn cả Pôm-pê hay Xê-da từng được phục vụ khi còn sống.

Gia-cô-bê, anh em của Chúa.

Cả nghìn lần, ký ức về đêm ấy đã tìm về thăm tôi. Và giờ tôi biết rằng nó sẽ còn tìm về thăm tôi cả nghìn lần nữa.

Đất sẽ quên những luống cày đã rạch trên ngực mình, người đàn bà sẽ quên nỗi đau và niềm vui khi sinh con, trước khi tôi quên được đêm ấy.

Buổi chiều hôm đó, chúng tôi ở bên ngoài tường thành Giê-ru-sa-lem, và Chúa Giê-su nói: "Bây giờ chúng ta vào thành, dùng bữa tối ở quán trọ."

Khi chúng tôi tới quán trọ thì trời đã tối, và chúng tôi đói. Ông chủ quán chào đón chúng tôi và dẫn lên một căn phòng trên lầu.

Chúa Giê-su bảo chúng tôi ngồi quanh bàn, nhưng chính Ngài thì vẫn đứng, và mắt Ngài dừng lại trên chúng tôi.

Rồi Ngài nói với ông chủ quán: "Xin mang cho tôi một cái chậu, một bình đầy nước, và một chiếc khăn."

Ngài lại nhìn chúng tôi, và nói nhỏ nhẹ: "Các con hãy cởi dép ra."

Chúng tôi không hiểu, nhưng theo lệnh Ngài, chúng tôi cởi dép ra.

Rồi ông chủ quán mang chậu và bình nước tới; và Chúa Giê-su nói: "Bây giờ Thầy sẽ rửa chân cho các con. Vì Thầy phải giải cho đôi chân các con khỏi bụi của con đường xưa, và trao cho chúng sự tự do của con đường mới."

Và tất cả chúng tôi đều bối rối, ngượng ngùng.

Rồi Si-môn Phê-rô đứng dậy nói: "Làm sao con để cho Thầy, Thầy và Chúa của con, rửa chân cho con được?"

Chúa Giê-su trả lời: "Thầy sẽ rửa chân cho con, để con nhớ rằng ai phục vụ người ta, người ấy sẽ là người lớn nhất giữa người ta."

Rồi Ngài nhìn từng người chúng tôi và nói: "Con Người đã chọn các con làm anh em của mình, Con Người mà hôm qua đôi chân được xức bằng mộc dược xứ Ả Rập và được lau khô bằng tóc một người đàn bà, bây giờ muốn rửa chân cho các con."

Rồi Ngài cầm chậu và bình nước, quỳ xuống rửa chân cho chúng tôi, bắt đầu từ Giu-đa Ít-ca-ri-ốt.

Sau đó Ngài ngồi xuống bàn với chúng tôi; và gương mặt Ngài như bình minh lên trên một bãi chiến trường, sau một đêm giao tranh và đổ máu.

Ông chủ quán cùng vợ mang thức ăn và rượu tới.

Và dù tôi đã đói trước khi Chúa Giê-su quỳ dưới chân tôi, giờ tôi không còn bụng nào để ăn. Trong cổ tôi có một ngọn lửa mà tôi không muốn lấy rượu dập đi.

Rồi Chúa Giê-su cầm một ổ bánh, trao cho chúng tôi, và nói: "Có lẽ chúng ta sẽ không còn bẻ bánh với nhau nữa. Chúng ta hãy ăn miếng bánh này để nhớ những ngày của chúng ta ở Ga-li-lê."

Rồi Ngài rót rượu từ vò ra chén, Ngài uống, rồi trao cho chúng tôi, và nói: "Hãy uống chén này để nhớ một cơn khát chúng ta đã cùng nhau biết. Và cũng hãy uống trong niềm hy vọng về mùa nho mới. Khi Thầy đã được bao bọc lại và không còn ở giữa các con nữa, mỗi khi các con gặp nhau, ở đây hay ở nơi nào khác, hãy bẻ bánh, rót rượu, và ăn uống như các con đang làm bây giờ. Rồi hãy nhìn quanh mình; biết đâu các con sẽ thấy Thầy đang ngồi cùng các con bên bàn."

Nói xong, Ngài bắt đầu chia cho chúng tôi từng miếng cá, miếng chim trĩ, như con chim mẹ mớm mồi cho bầy chim non.

Chúng tôi ăn ít mà vẫn no; và chúng tôi chỉ uống một giọt, vì chúng tôi cảm thấy chén rượu như một khoảng không nằm giữa đất này với một đất khác.

Rồi Chúa Giê-su nói: "Trước khi rời bàn này, chúng ta hãy đứng dậy hát những bài thánh ca vui tươi của Ga-li-lê."

Chúng tôi đứng dậy hát cùng nhau, và giọng Ngài vượt lên trên giọng chúng tôi, và mỗi lời Ngài hát đều ngân vang.

Rồi Ngài nhìn gương mặt chúng tôi, từng người một, và nói: "Bây giờ Thầy từ biệt các con. Chúng ta hãy ra khỏi những bức tường này. Chúng ta hãy tới vườn Ghết-sê-ma-ni."

Gio-an, con ông Dê-bê-đê, nói: "Thưa Thầy, sao đêm nay Thầy lại từ biệt chúng con?"

Chúa Giê-su nói: "Lòng các con đừng xao xuyến. Thầy chỉ rời các con để đi dọn chỗ cho các con trong nhà Cha Thầy. Nhưng nếu các con cần đến Thầy, Thầy sẽ trở lại với các con. Các con gọi Thầy ở đâu, Thầy sẽ nghe các con ở đó; và tâm hồn các con tìm Thầy ở đâu, Thầy sẽ ở đó.

Đừng quên rằng cơn khát dẫn tới bồn ép nho, và cơn đói dẫn tới tiệc cưới.

Chính trong nỗi khao khát của mình, các con sẽ tìm thấy Con Người. Vì khao khát là nguồn mạch của niềm ngây ngất, và là con đường dẫn tới Cha."

Gio-an lại nói: "Nếu Thầy thật sự bỏ chúng con mà đi, làm sao chúng con vui lòng được? Và sao Thầy lại nói tới chia lìa?"

Chúa Giê-su nói: "Con nai bị săn biết mũi tên của người thợ săn trước khi nó thấy mũi tên trong ngực mình; và dòng sông đã biết có biển cả trước khi nó chảy tới bờ biển. Và Con Người đã đi qua những con đường của con người.

Trước khi một cây hạnh nhân khác trao hoa của mình cho mặt trời, rễ của Thầy sẽ vươn tới lòng một cánh đồng khác."

Rồi Si-môn Phê-rô nói: "Thưa Thầy, xin đừng bỏ chúng con lúc này, xin đừng lấy đi của chúng con niềm vui được ở bên Thầy. Thầy đi đâu, chúng con cũng sẽ đi đó; và Thầy ở đâu, chúng con cũng sẽ ở đó."

Chúa Giê-su đặt tay lên vai Si-môn Phê-rô, mỉm cười với ông, và nói: "Ai biết được, có khi con sẽ chối Thầy trước khi đêm nay qua, và bỏ Thầy trước khi Thầy bỏ con?"

Rồi bất chợt Ngài nói: "Bây giờ chúng ta đi khỏi đây."

Ngài rời quán trọ và chúng tôi theo Ngài. Nhưng khi chúng tôi tới cổng thành, Giu-đa Ít-ca-ri-ốt không còn ở với chúng tôi nữa. Chúng tôi băng qua thung lũng Ghê-hen-na. Chúa Giê-su đi xa phía trước, còn chúng tôi đi sát bên nhau.

Khi tới một vườn ô-liu, Ngài dừng lại, quay về phía chúng tôi và nói: "Hãy nghỉ ở đây một giờ."

Buổi tối mát lạnh, dù đang giữa mùa xuân, cây dâu đang trổ chồi non và cây táo đang nở hoa. Và những khu vườn thơm ngọt.

Mỗi người chúng tôi tìm một gốc cây mà nằm xuống. Riêng tôi quấn áo choàng quanh mình và nằm dưới một cây thông.

Nhưng Chúa Giê-su rời chúng tôi, đi một mình trong vườn ô-liu. Và tôi dõi theo Ngài trong khi những người khác ngủ.

Ngài bỗng đứng yên, rồi lại đi tới đi lui. Ngài làm vậy nhiều lần.

Rồi tôi thấy Ngài ngẩng mặt lên trời, dang hai tay về phía đông và phía tây.

Có lần Ngài đã nói: "Trời và đất, cả hỏa ngục nữa, đều ở nơi con người." Và lúc này tôi nhớ lại lời Ngài, và tôi biết rằng Đấng đang đi tới đi lui trong vườn ô-liu kia là trời đã làm người. Tôi chợt nghĩ rằng lòng đất không phải là khởi đầu cũng không phải là kết thúc, mà đúng hơn là một cỗ xe, một chặng dừng, một phút giây của ngỡ ngàng và kinh ngạc. Và tôi cũng thấy hỏa ngục, trong thung lũng tên là Ghê-hen-na, nằm giữa Ngài và Thành Thánh.

Trong lúc Ngài đứng đó và tôi nằm quấn trong áo choàng, tôi nghe tiếng Ngài nói. Nhưng Ngài không nói với chúng tôi. Ba lần tôi nghe Ngài thốt lên tiếng Cha. Tôi chỉ nghe được có vậy.