Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người
Lạy Cha, Xin Tha Cho Họ, Vì Họ Không Biết
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe năm người kể: ông Giô-xếp gọi là Giút-tô, ông Phi-líp-phê, bà Birbarah, vợ của quan Phi-la-tô, và một người sống ngoài thành Giê-ru-sa-lem, người đã gặp Giu-đa trong đêm cuối cùng của anh ta.
Giô-xếp, cũng gọi là Giút-tô.
Người ta nói Ngài là kẻ thô lỗ, đứa con tầm thường của một dòng giống tầm thường, một con người cục mịch và hung hăng.
Người ta nói chỉ có gió chải tóc cho Ngài, và chỉ có mưa mới làm cho quần áo áp sát vào thân thể Ngài.
Người ta cho Ngài là điên, và gán lời Ngài nói cho ma quỷ.
Vậy mà kìa, Con Người bị khinh rẻ ấy đã cất tiếng thách thức, và tiếng ấy sẽ không bao giờ dứt.
Ngài đã hát một bài ca, và không ai chặn được giai điệu ấy. Nó sẽ bay lượn từ thế hệ này sang thế hệ khác, và sẽ vươn lên từ tầng trời này sang tầng trời khác, nhớ mãi đôi môi đã sinh ra nó và những đôi tai đã nâng niu nó.
Ngài là một người lạ. Phải, Ngài là một người lạ, một khách bộ hành đang trên đường tới một đền thánh, một người khách đã gõ cửa nhà chúng ta, một vị khách đến từ một xứ xa.
Và vì Ngài không gặp được một chủ nhà tử tế, Ngài đã trở về chốn của mình.
Phi-líp-phê.
Khi Đấng Yêu Dấu của chúng tôi chết, cả loài người chết theo, và muôn vật một hồi lâu lặng im, xám xịt. Rồi phương đông tối sầm lại, một cơn bão từ đó lao ra quét ngang mặt đất. Mắt trời mở ra rồi nhắm lại, và mưa đổ xuống như thác, cuốn đi máu đang chảy từ tay chân Ngài.
Tôi cũng chết. Nhưng từ đáy sâu của cơn mê, tôi nghe Ngài cất tiếng nói: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm."
Và tiếng Ngài đi tìm linh hồn chết đuối của tôi, và tôi được đưa trở lại bờ.
Tôi mở mắt ra, thấy thân thể trắng của Ngài treo trên nền mây, và những lời tôi vừa nghe thành hình trong tôi, thành một con người mới. Và tôi không còn buồn nữa.
Ai lại buồn vì một biển cả đang vén màn để lộ mặt mình, hay vì một ngọn núi đang cười trong nắng?
Đã có bao giờ trong lòng con người, khi lòng ấy bị đâm thâu, lại nói ra được những lời như vậy chưa?
Có người xét xử nào khác đã tha cho chính những kẻ xét xử mình? Và đã có bao giờ tình yêu thách thức hận thù bằng một sức mạnh chắc chắn về mình hơn thế?
Đã có bao giờ một tiếng kèn như vậy vang lên giữa trời và đất?
Trước đây đã ai biết chuyện kẻ bị giết lại xót thương những kẻ giết mình? Hay chuyện ngôi sao băng dừng bước vì một con chuột chũi?
Các mùa sẽ mỏi mệt, năm tháng sẽ già đi, trước khi chúng làm cạn được những lời này: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm."
Và bạn và tôi, dù có sinh ra lần này lần nữa, vẫn sẽ giữ lấy những lời ấy.
Và giờ đây tôi muốn vào nhà mình, và đứng như một kẻ ăn xin được nâng cao, trước cửa nhà Ngài.
Birbarah, người làng Yammouni.
Chúa Giê-su kiên nhẫn với kẻ chậm hiểu và người ngu dốt, như mùa đông chờ mùa xuân.
Ngài kiên nhẫn như ngọn núi giữa gió.
Ngài ôn tồn trả lời những câu chất vấn gay gắt của kẻ thù.
Ngài còn có thể im lặng trước những lời bắt bẻ và tranh cãi, vì Ngài mạnh, và người mạnh thì nhẫn nại được.
Nhưng Chúa Giê-su cũng là người thiếu kiên nhẫn.
Ngài không nương tay với kẻ đạo đức giả.
Ngài không nhượng bộ những kẻ xảo quyệt, cũng không nhượng bộ những kẻ làm trò với chữ nghĩa.
Và Ngài không chịu để ai cai trị mình.
Ngài thiếu kiên nhẫn với những người không tin có ánh sáng, chỉ vì chính họ sống trong bóng tối; và với những người đi tìm dấu lạ trên bầu trời thay vì trong lòng mình.
Ngài thiếu kiên nhẫn với những người cân đo ngày và đêm, rồi mới dám gửi giấc mơ của mình cho buổi bình minh hay buổi chiều tà.
Chúa Giê-su kiên nhẫn.
Vậy mà Ngài là người thiếu kiên nhẫn nhất trong loài người.
Ngài muốn bạn dệt tấm vải, dù bạn phải mất bao năm giữa khung cửi và sợi gai.
Nhưng Ngài không muốn ai xé đi dù một tấc của tấm vải đã dệt.
Vợ của Phi-la-tô, viết cho một bà người Rô-ma.
Tôi đang dạo cùng các cô hầu trong những lùm cây ngoài thành Giê-ru-sa-lem thì thấy Ngài, có ít người đàn ông, đàn bà ngồi quanh Ngài; và Ngài đang nói với họ bằng một thứ tiếng mà tôi chỉ hiểu được một nửa.
Nhưng người ta đâu cần tới ngôn ngữ mới nhận ra một cột ánh sáng, hay một ngọn núi pha lê. Trái tim biết những điều mà lưỡi không bao giờ nói ra được, và tai không bao giờ nghe thấy được.
Ngài đang nói với bạn bè về tình yêu và sức mạnh. Tôi biết Ngài nói về tình yêu, vì trong giọng Ngài có giai điệu; và tôi biết Ngài nói về sức mạnh, vì trong cử chỉ Ngài có những đạo quân. Và Ngài thật dịu dàng, dù ngay cả chồng tôi cũng không thể nói với uy quyền như thế.
Khi thấy tôi đi ngang, Ngài ngưng nói một chút, và nhìn tôi hiền hậu. Tôi thấy mình nhỏ bé lại; và trong linh hồn, tôi biết mình vừa đi ngang qua một vị thần.
Từ ngày ấy, hình ảnh Ngài đến thăm chốn riêng tư của tôi, vào những lúc tôi không muốn đàn ông hay đàn bà nào đến thăm; và mắt Ngài dò tìm linh hồn tôi khi chính mắt tôi nhắm lại. Và giọng Ngài ngự trị sự tĩnh lặng trong những đêm của tôi.
Tôi bị giữ chặt mãi mãi; và trong nỗi đau của tôi có bình an, trong nước mắt của tôi có tự do.
Bạn yêu dấu, bạn chưa bao giờ thấy người ấy, và bạn sẽ không bao giờ thấy Ngài.
Ngài đã đi khuất khỏi các giác quan của chúng ta, nhưng trong mọi người, giờ đây Ngài là người gần tôi nhất.
Một người ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem.
Hôm thứ Sáu ấy, chiều trước lễ Vượt Qua, Giu-đa tới nhà tôi; anh ta gõ cửa thật mạnh.
Khi anh ta bước vào, tôi nhìn thì thấy mặt anh ta xám ngoét như tro. Tay anh ta run như cành khô trước gió, quần áo ướt sũng như vừa từ dưới sông bước lên; vì chiều hôm ấy có những cơn bão lớn.
Anh ta nhìn tôi, hai hốc mắt như hai hang tối, và đôi mắt đỏ ngầu máu.
Anh ta nói: "Tôi đã nộp Giê-su thành Na-da-rét cho kẻ thù của Ngài, và cho kẻ thù của tôi."
Rồi Giu-đa vặn hai bàn tay mà nói: "Giê-su đã tuyên bố rằng Ngài sẽ thắng mọi kẻ thù của Ngài và kẻ thù của dân tộc chúng ta. Và tôi đã tin, và tôi đã theo Ngài.
"Khi mới gọi chúng tôi đến với Ngài, Ngài hứa cho chúng tôi một vương quốc hùng mạnh, rộng lớn, và vì tin, chúng tôi tìm cách được Ngài đoái thương, để có những chỗ đứng danh giá trong triều đình của Ngài.
"Chúng tôi đã thấy mình là những ông hoàng, đối xử với bọn Rô-ma này như chúng đã đối xử với chúng tôi. Giê-su đã nói nhiều về vương quốc của Ngài, và tôi đã nghĩ Ngài chọn tôi làm một vị chỉ huy đoàn chiến xa của Ngài, một người đứng đầu đám chiến binh của Ngài. Và tôi đã vui lòng theo bước Ngài.
"Nhưng rồi tôi thấy cái Giê-su tìm không phải là một vương quốc, và cũng không phải Ngài muốn giải phóng chúng tôi khỏi tay người Rô-ma. Vương quốc của Ngài chỉ là vương quốc của trái tim. Tôi nghe Ngài nói về tình yêu, về lòng bác ái, về sự tha thứ, và những người đàn bà bên vệ đường vui vẻ lắng nghe, nhưng lòng tôi đắng lại, và tôi chai cứng đi.
"Vị vua của Giu-đê mà người ta hứa với tôi, bỗng như đã hóa thành một kẻ thổi sáo, để vỗ về tâm trí những kẻ lang thang, những kẻ không nhà.
"Tôi đã thương Ngài như những người khác trong chi tộc tôi đã thương Ngài. Tôi đã thấy nơi Ngài một niềm hy vọng, một sự giải thoát khỏi ách của bọn ngoại bang. Nhưng khi Ngài không chịu nói một lời, không chịu nhấc một ngón tay để cởi cái ách ấy cho chúng tôi, và khi Ngài còn muốn trả cho Xê-da những gì của Xê-da, thì nỗi tuyệt vọng tràn ngập lòng tôi, và hy vọng của tôi chết. Và tôi đã nói: 'Kẻ nào giết hy vọng của tôi thì phải bị giết, vì hy vọng và mong đợi của tôi quý hơn mạng sống của bất cứ ai.'"
Rồi Giu-đa nghiến răng, và cúi gằm đầu xuống. Khi anh ta lại cất tiếng, anh ta nói: "Tôi đã nộp Ngài. Và hôm nay Ngài đã bị đóng đinh... Vậy mà khi Ngài chết trên thập giá, Ngài chết như một vị vua. Ngài chết giữa cơn bão như những người giải phóng vẫn chết, như những con người lớn lao sống vượt lên trên tấm khăn liệm và phiến đá mộ.
"Và suốt lúc Ngài hấp hối, Ngài vẫn nhân hậu, vẫn hiền từ; và lòng Ngài đầy thương xót. Ngài thương xót cả tôi, kẻ đã nộp Ngài."
Tôi nói: "Giu-đa, anh đã làm một điều sai trái nặng nề."