Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người

Bàn Tay Ngài Đặt Trên Bức Tường Nhà Ngục

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe bốn người kể: Mannus, một người Pompeii viết cho bạn Hy Lạp, quan tổng trấn Phong-xi-ô Phi-la-tô, Ba-tô-lô-mê-ô ở Ê-phê-xô, và Mát-thêu.

Mannus người Pompeii, nói với một người Hy Lạp.

Người Do Thái, cũng như láng giềng của họ là người Phê-ni-xi và người Ả Rập, không chịu để cho các thần của họ được nghỉ ngơi trên ngọn gió dù chỉ một chút.

Họ nghĩ ngợi quá nhiều về thần của mình, và để ý quá nhiều tới lời cầu nguyện, sự thờ phượng và lễ hiến tế của nhau.

Trong khi người Rô-ma chúng ta xây đền đá cẩm thạch cho các thần của mình, thì dân này lại bàn cãi về bản tính của thần họ. Khi ngây ngất, chúng ta ca hát nhảy múa quanh bàn thờ thần Jupiter và nữ thần Juno, thần Mars và nữ thần Venus; còn họ, trong cơn xuất thần, lại mặc áo vải thô và rắc tro lên đầu, thậm chí còn than khóc cái ngày đã sinh ra mình.

Còn Giê-su, người đã tỏ cho thấy Thượng đế là một đấng của niềm vui, thì họ hành hạ ông ấy, rồi giết ông ấy.

Dân này không thể vui với một vị thần vui vẻ. Họ chỉ biết những vị thần của nỗi đau mình.

Ngay cả bạn bè và môn đệ của Giê-su, những người đã biết sự vui tươi của ông ấy và đã nghe tiếng ông ấy cười, cũng tạc ra một hình ảnh về nỗi buồn của ông ấy, rồi thờ hình ảnh đó.

Và trong lối thờ phượng ấy, họ không vươn lên tới thần của mình; họ chỉ kéo thần của mình xuống ngang với họ.

Tuy vậy, tôi tin rằng nhà hiền triết Giê-su này, người không khác Xô-crát là mấy, sẽ có quyền năng trên giống nòi của ông ấy, và biết đâu trên cả những giống nòi khác.

Vì tất cả chúng ta đều là những sinh vật của nỗi buồn và của những nghi ngờ vụn vặt. Và khi có một người nói với ta: "Chúng ta hãy vui cùng các thần," thì ta không thể không nghe theo tiếng người ấy. Lạ thay, nỗi đau của người này lại được đúc thành một nghi lễ.

Dân này sẽ tìm ra một Adonis khác, một vị thần bị giết trong rừng, rồi họ sẽ làm lễ mừng cái chết của vị thần ấy. Tiếc thay, họ không chịu nghe tiếng cười của ông ấy.

Nhưng ta hãy thú thật với nhau, như người Rô-ma với người Hy Lạp. Chính chúng ta có nghe được tiếng cười của Xô-crát trên những con phố A-thên không? Có bao giờ ta quên được chén thuốc độc, ngay cả khi ngồi trong nhà hát của thần Dionysus?

Chẳng phải cha ông chúng ta vẫn còn dừng lại nơi góc phố để bàn chuyện khổ đau, và có được một lúc vui khi nhớ lại cái kết thảm thương của tất cả những vĩ nhân của chúng ta đó sao?

Phong-xi-ô Phi-la-tô.

Vợ tôi đã nhiều lần nói về người ấy trước khi người ấy bị giải tới trước mặt tôi, nhưng tôi không bận tâm.

Vợ tôi là người hay mơ mộng, và cũng như bao phụ nữ Rô-ma cùng địa vị, nàng hay mê những giáo phái và nghi lễ phương Đông. Mà những giáo phái này thì nguy hiểm cho Đế quốc; và khi chúng tìm được đường vào trái tim đàn bà của chúng ta, chúng trở nên tai hại.

Ai Cập đã tới hồi kết khi người Hyksos từ Ả Rập mang tới cho nàng vị thần duy nhất của sa mạc họ. Và Hy Lạp đã bị khuất phục, sụp đổ thành tro bụi khi nữ thần Ashtarte cùng bảy thiếu nữ của bà từ bờ biển Xy-ri tới.

Còn về Giê-su, tôi chưa từng gặp người ấy trước khi người ấy bị nộp cho tôi như một kẻ gian ác, một kẻ thù của chính dân tộc mình và của cả Rô-ma.

Người ấy bị giải vào Công Đường, hai cánh tay bị trói chặt vào thân bằng dây thừng.

Tôi đang ngồi trên bục cao, và người ấy bước về phía tôi bằng những bước dài, vững chãi; rồi người ấy đứng thẳng, đầu ngẩng cao.

Và tôi không sao hiểu nổi lúc ấy điều gì đã đến với tôi; nhưng bỗng dưng tôi có một nỗi ước muốn, dù không phải ý chí của tôi, là đứng dậy, bước xuống khỏi bục mà quỳ sụp trước người ấy.

Tôi cảm thấy như thể Xê-da vừa bước vào Công Đường, một người còn lớn hơn cả chính Rô-ma.

Nhưng điều đó chỉ kéo dài trong chốc lát. Rồi tôi chỉ thấy một người đàn ông bị chính dân mình tố cáo tội phản nghịch. Và tôi là tổng trấn, là quan xét xử người ấy.

Tôi tra hỏi, nhưng người ấy không chịu trả lời. Người ấy chỉ nhìn tôi. Và trong ánh nhìn ấy có lòng thương hại, như thể chính người ấy mới là tổng trấn và là quan xét xử tôi.

Rồi từ bên ngoài vang lên tiếng la hét của dân chúng. Nhưng người ấy vẫn lặng im, và vẫn nhìn tôi với lòng thương hại trong đôi mắt.

Tôi bước ra bậc thềm dinh, và khi dân chúng thấy tôi, họ thôi la hét. Tôi nói: "Các người muốn gì với người này?"

Họ hét lên như từ một cổ họng: "Chúng tôi muốn đóng đinh hắn. Hắn là kẻ thù của chúng tôi và là kẻ thù của Rô-ma."

Có kẻ còn la lên: "Chẳng phải hắn đã nói sẽ phá Đền Thờ sao? Chẳng phải chính hắn đã đòi vương quyền sao? Chúng tôi không có vua nào ngoài Xê-da."

Rồi tôi bỏ họ đó, trở vào Công Đường, và thấy người ấy vẫn đứng đó một mình, đầu vẫn ngẩng cao.

Và tôi nhớ lại điều mình từng đọc, một triết gia Hy Lạp đã nói: "Người cô độc là người mạnh nhất." Lúc ấy, người Na-da-rét lớn hơn cả giống nòi của mình.

Và tôi không thấy mình khoan dung với người ấy. Người ấy ở ngoài tầm khoan dung của tôi.

Tôi bèn hỏi: "Ông có phải là Vua dân Do Thái không?"

Người ấy không nói một lời.

Tôi hỏi lại: "Chẳng phải ông đã nói mình là Vua dân Do Thái sao?"

Người ấy nhìn tôi.

Rồi người ấy trả lời bằng giọng điềm tĩnh: "Chính ông đã xưng ta là vua. Có lẽ ta đã sinh ra vì mục đích này, và vì lẽ này mà ta đến để làm chứng cho sự thật."

Hãy xem, một con người nói về sự thật vào một lúc như thế.

Trong cơn nóng ruột, tôi nói lớn, nói với chính mình cũng như với người ấy: "Sự thật là gì? Và sự thật là gì đối với kẻ vô tội, khi bàn tay đao phủ đã đặt lên người hắn?"

Bấy giờ Giê-su nói, đầy uy lực: "Không ai cai trị được thế gian, nếu không có Thần Khí và sự thật."

Tôi hỏi: "Ông là người của Thần Khí sao?"

Người ấy đáp: "Ông cũng vậy, dù ông không biết."

Vậy thì Thần Khí là gì, sự thật là gì, khi tôi, vì lợi ích của Nhà nước, và họ, vì lòng ghen giữ cho những nghi lễ cổ xưa của mình, đã nộp một người vô tội cho cái chết?

Không một người nào, không một giống nòi nào, không một đế quốc nào chịu dừng lại trước một sự thật, trên đường đi tới chỗ thành tựu chính mình.

Tôi lại nói: "Ông có phải là Vua dân Do Thái không?"

Người ấy trả lời: "Chính ông nói vậy. Ta đã thắng thế gian trước giờ này rồi."

Và chỉ riêng câu này, trong tất cả những gì người ấy nói, là không hợp lẽ, bởi chỉ có Rô-ma mới thắng được thế gian.

Nhưng giờ tiếng dân chúng lại nổi lên, ồn ào hơn trước.

Tôi bước xuống khỏi ghế và nói với người ấy: "Hãy theo ta."

Rồi một lần nữa tôi ra bậc thềm dinh, và người ấy đứng đó bên cạnh tôi.

Khi dân chúng thấy người ấy, họ gầm lên như sấm rền. Và trong tiếng ồn ào ấy, tôi chẳng nghe gì ngoài "Đóng đinh hắn, đóng đinh hắn!"

Rồi tôi trao người ấy cho các thầy tế, những kẻ đã trao người ấy cho tôi, và tôi nói với họ: "Muốn làm gì người công chính này thì làm. Và nếu các người muốn, hãy dẫn theo lính Rô-ma mà canh giữ người ấy."

Rồi họ dẫn người ấy đi, và tôi ra lệnh viết trên thập giá, phía trên đầu người ấy: "Giê-su thành Na-da-rét, Vua dân Do Thái." Đáng lẽ tôi phải viết: "Giê-su thành Na-da-rét, một vị Vua."

Và người ấy bị lột áo, bị đánh đòn, rồi bị đóng đinh.

Tôi đã có quyền cứu người ấy, nhưng cứu người ấy thì sẽ gây ra một cuộc nổi loạn; mà đối với tổng trấn một tỉnh của Rô-ma, khôn ngoan nhất bao giờ cũng là đừng cứng rắn với những điều kiêng kỵ tôn giáo của một dân bị trị.

Cho tới giờ này tôi vẫn tin rằng người ấy hơn một kẻ xúi giục nổi loạn. Điều tôi ra lệnh không phải là ý muốn của tôi, mà là vì lợi ích của Rô-ma.

Không lâu sau, chúng tôi rời Xy-ri, và từ ngày ấy vợ tôi thành một người đàn bà sầu khổ. Đôi khi, ngay trong khu vườn này, tôi thấy một bi kịch trên gương mặt nàng.

Người ta bảo tôi rằng nàng hay nói về Giê-su với những phụ nữ Rô-ma khác.

Hãy xem, người mà tôi đã ra lệnh xử tử, từ cõi bóng tối trở về, và bước vào chính nhà tôi.

Và trong lòng, tôi cứ hỏi đi hỏi lại: Sự thật là gì, và điều gì không phải là sự thật?