Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người

Gõ Cửa Giấc Ngủ Của Tôi Cho Tới Sáng

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe năm người kể: Giu-đa, người anh em họ của Chúa, một người từ sa mạc, ông Phê-rô, một nhà thiên văn người Ba-by-lon, và một triết gia.

Giu-đa, người anh em họ của Chúa Giê-su.

Vào một đêm tháng tám, chúng tôi ở với Thầy trên một bãi đất hoang không xa bờ hồ. Người xưa gọi bãi đất ấy là Đồng Đầu Lâu.

Chúa Giê-su nằm ngả trên cỏ, mắt nhìn lên những vì sao.

Bỗng có hai người hớt hải chạy về phía chúng tôi, thở không ra hơi. Trông họ như đang quằn quại trong cơn đau, rồi họ sấp mình dưới chân Chúa Giê-su.

Chúa Giê-su đứng dậy, Ngài hỏi: "Các anh từ đâu tới?"

Một người trả lời: "Từ Ma-kê-rút."

Chúa Giê-su nhìn người ấy, lòng Ngài xao động, và Ngài hỏi: "Gio-an thế nào rồi?"

Người kia nói: "Ông đã bị giết hôm nay. Ông bị chém đầu trong ngục."

Bấy giờ Chúa Giê-su ngẩng đầu lên. Rồi Ngài bước ra xa chúng tôi một quãng. Một lúc sau, Ngài lại đứng giữa chúng tôi.

Ngài nói: "Nhà vua đã có thể giết vị tiên tri ấy từ trước hôm nay. Quả thật, nhà vua đã dò xem thần dân mình thích điều gì. Các vua thuở xưa đâu có chậm trễ như vậy trong việc trao đầu một vị tiên tri cho bọn săn đầu người.

"Ta không buồn cho Gio-an, mà buồn cho Hê-rô-đê, kẻ đã để lưỡi gươm rơi xuống. Tội nghiệp ông vua, như một con thú bị bắt, bị dắt đi bằng một cái vòng và một sợi dây.

"Tội nghiệp những ông tiểu vương nhỏ mọn lạc trong bóng tối của chính mình, họ vấp và ngã xuống. Mà các con còn mong gì ở một vùng biển nước tù, ngoài những con cá chết?

"Ta không ghét các vua. Cứ để họ cai trị con người, nhưng chỉ khi họ khôn ngoan hơn con người."

Rồi Thầy nhìn hai gương mặt buồn rầu kia, rồi nhìn chúng tôi, và Ngài lại nói: "Gio-an sinh ra đã mang thương tích, và máu từ những vết thương của ông tuôn ra theo lời ông nói. Ông là sự tự do chưa được tự do khỏi chính mình, và chỉ kiên nhẫn với những gì ngay thẳng và công chính.

"Thật vậy, ông là tiếng kêu giữa xứ của những người điếc; và Ta thương ông trong nỗi đau và nỗi cô đơn của ông.

"Và Ta thương lòng kiêu hãnh của ông, thà dâng đầu mình cho lưỡi gươm, chứ không chịu cúi đầu xuống bụi đất.

"Quả thật, Ta nói với các con, Gio-an, con ông Da-ca-ri-a, là người cuối cùng của dòng giống mình, và cũng như cha ông mình, ông đã bị giết giữa ngưỡng cửa Đền Thờ và bàn thờ."

Rồi Chúa Giê-su lại bước ra xa chúng tôi.

Rồi Ngài trở lại và nói: "Xưa nay vẫn vậy, những kẻ cai trị một giờ thì muốn giết những người cai trị bao năm tháng. Và xưa nay họ vẫn muốn mở phiên xử, kết án một người còn chưa sinh ra, và định cho người ấy phải chết trước khi người ấy phạm tội.

"Con ông Da-ca-ri-a sẽ sống với Ta trong nước của Ta, và ngày của ông sẽ dài."

Rồi Ngài quay sang các môn đệ của Gio-an mà nói: "Việc làm nào cũng có ngày mai của nó. Chính Ta có thể là ngày mai của việc làm này. Hãy về với bạn bè của bạn Ta, và nói với họ rằng Ta sẽ ở cùng họ."

Hai người kia đi khỏi chúng tôi, và trông họ như bớt nặng lòng.

Rồi Chúa Giê-su lại nằm xuống cỏ, dang rộng hai tay, và Ngài lại nhìn lên những vì sao.

Lúc ấy đã khuya. Tôi nằm không xa Ngài, tôi những muốn nghỉ ngơi, nhưng có một bàn tay cứ gõ lên cánh cửa giấc ngủ của tôi, và tôi nằm thức cho tới khi Chúa Giê-su và bình minh lại gọi tôi lên đường.

Người đến từ sa mạc.

Tôi là người lạ ở Giê-ru-sa-lem. Tôi đến Thành Thánh để chiêm ngưỡng ngôi Đền Thờ lớn, và để dâng lễ tế trên bàn thờ, vì vợ tôi vừa sinh cho bộ tộc tôi một cặp con trai sinh đôi.

Dâng lễ xong, tôi đứng trong hành lang có cột của Đền Thờ, nhìn xuống những người đổi tiền và những người bán chim bồ câu để tế lễ, và nghe tiếng ồn ào lớn trong sân.

Đang đứng đó, bỗng có một người đi thẳng vào giữa những người đổi tiền và những người bán chim bồ câu.

Đó là một người uy nghi, và Ngài đi rất nhanh.

Trong tay Ngài cầm một sợi dây bằng da dê; và Ngài bắt đầu lật đổ bàn của những người đổi tiền, và lấy sợi dây quất những người bán chim.

Tôi nghe Ngài nói lớn tiếng: "Hãy trả những con chim này về cho bầu trời, là tổ của chúng."

Đàn ông đàn bà chạy tán loạn trước mặt Ngài, còn Ngài đi giữa họ như cơn gió lốc đi qua những đồi cát.

Mọi chuyện xảy ra chỉ trong chốc lát, rồi sân Đền Thờ không còn bóng một người đổi tiền nào. Chỉ còn người ấy đứng đó một mình, còn những người theo Ngài thì đứng ở xa.

Bấy giờ tôi quay mặt đi và thấy một người khác trong hành lang Đền Thờ. Tôi bước tới chỗ ông ta và hỏi: "Thưa ông, người đang đứng một mình kia, sừng sững như một ngôi đền khác, là ai vậy?" Ông ta trả lời tôi: "Đó là Giê-su thành Na-da-rét, một nhà tiên tri mới xuất hiện gần đây ở Ga-li-lê. Ở Giê-ru-sa-lem này, ai cũng ghét Ngài."

Tôi nói: "Lòng tôi đủ mạnh để đứng về phía ngọn roi của Ngài, và cũng đủ mềm để quỳ dưới chân Ngài."

Rồi Giê-su quay về phía những người theo Ngài đang đợi. Nhưng trước khi Ngài tới chỗ họ, có ba con chim bồ câu của Đền Thờ bay trở lại, một con đậu trên vai trái Ngài, còn hai con đậu dưới chân Ngài. Ngài dịu dàng chạm vào từng con. Rồi Ngài bước tiếp, và mỗi bước chân của Ngài dài như cả mấy dặm đường.

Bây giờ bạn hãy nói tôi nghe, Ngài có quyền năng gì mà xông vào và xua tan hàng trăm người đàn ông đàn bà, không một ai chống lại? Người ta bảo tôi rằng ai cũng ghét Ngài, vậy mà hôm ấy không một người nào đứng ra cản Ngài. Phải chăng trên đường vào sân Đền Thờ, Ngài đã nhổ hết nanh vuốt của lòng thù ghét?

Phê-rô.

Có lần, lúc mặt trời lặn, Chúa Giê-su dẫn chúng tôi vào làng Bết-xai-đa. Cả bọn chúng tôi đều mệt, bụi đường còn bám đầy người. Chúng tôi tới một ngôi nhà lớn giữa một khu vườn, và người chủ nhà đang đứng ở cổng.

Chúa Giê-su nói với ông ta: "Những người này mệt mỏi, chân đã đau vì đi đường. Xin cho họ ngủ trong nhà ông. Đêm lạnh, họ cần hơi ấm và cần nghỉ ngơi."

Người giàu có ấy nói: "Họ sẽ không ngủ trong nhà tôi."

Chúa Giê-su nói: "Vậy xin cho họ ngủ trong vườn ông."

Người ấy trả lời: "Không, họ sẽ không ngủ trong vườn tôi."

Bấy giờ Chúa Giê-su quay sang chúng tôi mà nói: "Đây là ngày mai của các con, và hôm nay cũng giống như tương lai của các con. Mọi cánh cửa sẽ đóng lại trước mặt các con, và ngay cả những khu vườn nằm dưới những vì sao cũng không phải là chỗ nằm của các con.

"Nếu chân các con thật sự biết nhẫn nại với đường xa mà theo Thầy, có thể các con sẽ gặp được một chậu nước rửa chân và một chỗ ngủ, và có khi cả bánh và rượu nữa. Nhưng nếu các con chẳng gặp được thứ nào trong những thứ ấy, thì đừng quên rằng các con đã băng qua một trong những sa mạc của Thầy.

"Nào, chúng ta đi thôi."

Người giàu có kia bối rối, mặt mày biến sắc, ông ta lẩm bẩm một mình những lời mà tôi không nghe rõ; rồi ông ta rụt người lại, tránh xa chúng tôi và quay vào trong vườn.

Còn chúng tôi theo Chúa Giê-su lên đường.

Melachi người Ba-by-lon, một nhà thiên văn.

Bạn hỏi tôi về những phép lạ của Giê-su.

Cứ mỗi ngàn ngàn năm, mặt trời và mặt trăng và trái đất này và tất cả các hành tinh chị em của nó lại gặp nhau trên một đường thẳng, và chúng cùng nhau bàn bạc trong chốc lát.

Rồi chúng chậm rãi tản ra, và đợi thêm một ngàn ngàn năm nữa trôi qua.

Không có phép lạ nào nằm ngoài các mùa, thế nhưng bạn và tôi đâu có biết hết mọi mùa. Và nếu có một mùa hiện ra trong hình hài một con người thì sao?

Nơi Giê-su, những yếu tố làm nên thân xác và giấc mơ của chúng ta đã gặp nhau theo đúng luật của chúng. Tất cả những gì trước Ngài là phi thời gian, thì nơi Ngài đã đi vào thời gian.

Người ta nói Ngài đã cho người mù được thấy, cho người bại liệt được đi, và đuổi quỷ ra khỏi những người điên.

Biết đâu sự mù lòa chỉ là một ý nghĩ tối tăm, có thể bị một ý nghĩ rực cháy thắng được. Biết đâu một chi thể khô héo chỉ là sự lười nhác, có thể được sức mạnh làm cho sống dậy. Và có lẽ những con quỷ kia, những yếu tố không yên trong đời sống chúng ta, đã bị các thiên thần của bình an và thanh thản đuổi đi.

Người ta nói Ngài đã làm cho người chết sống lại. Nếu bạn nói được cho tôi biết chết là gì, thì tôi sẽ nói cho bạn biết sống là gì.

Ngoài đồng, tôi từng ngắm một hạt sồi, một vật nằm im lìm và trông như vô dụng. Rồi vào mùa xuân, tôi thấy chính hạt sồi ấy bén rễ và vươn lên, khởi đầu của một cây sồi, hướng về phía mặt trời.

Chắc chắn bạn sẽ cho đó là một phép lạ, vậy mà phép lạ ấy được làm ra ngàn ngàn lần trong cơn ngủ lơ mơ của mỗi mùa thu và trong niềm say mê của mỗi mùa xuân.