Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người
Có Một Sa Mạc Trong Sự Im Lặng Của Ngài
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe năm người kể: ông Elmadam nhà lý luận, một người phụ nữ tên Maria, nhà thơ Hy Lạp Rumanous, ông Lê-vi, và một bà góa ở Ga-li-lê.
Elmadam, nhà lý luận.
Ông bảo tôi nói về Giê-su người Na-da-rét, mà tôi thì có nhiều điều để kể, nhưng chưa tới lúc. Dù vậy, bất cứ điều gì tôi nói về ông ta bây giờ cũng là sự thật; vì mọi lời nói đều vô giá trị, trừ khi nó để lộ ra sự thật.
Hãy xem một con người vô trật tự, chống lại mọi trật tự; một kẻ ăn mày, chống lại mọi của cải; một kẻ say sưa chỉ thích vui chơi với bọn bất lương và những kẻ bị ruồng bỏ.
Ông ta không phải đứa con kiêu hãnh của Nhà Nước, cũng không phải người công dân được Đế Quốc che chở; vì thế ông ta khinh cả Nhà Nước lẫn Đế Quốc.
Ông ta muốn sống tự do và chẳng bổn phận gì, như chim trời, và vì thế những người thợ săn đã dùng tên bắn ông ta rơi xuống đất.
Không ai mở cửa đập ngăn nước của tổ tiên mình mà không bị chết đuối. Đó là luật. Và vì người Na-da-rét phá luật, ông ta và những môn đồ khờ khạo của ông ta đã bị tiêu tan thành hư không.
Và đã có nhiều người khác sống như ông ta, những người muốn đổi hướng số phận của chúng ta.
Chính họ bị đổi thay, và họ là những kẻ thua cuộc.
Có một cây nho không trái mọc bên tường thành. Nó bò lên và bám vào đá. Nếu cây nho ấy nói trong lòng: "Với sức mạnh và sức nặng của ta, ta sẽ phá đổ những bức tường này", thì những loài cây khác sẽ nói gì? Hẳn chúng sẽ cười sự dại dột của nó.
Vậy đó thưa ông, tôi không thể không cười con người này và những môn đồ thiếu suy xét của ông ta.
Một trong những người tên Maria.
Đầu Ngài lúc nào cũng ngẩng cao, và ngọn lửa của Thiên Chúa ở trong mắt Ngài.
Ngài thường buồn, nhưng nỗi buồn của Ngài là sự dịu dàng dành cho những người đau khổ, là tình bạn trao cho những người cô đơn.
Khi Ngài cười, nụ cười của Ngài như cơn đói của những người khao khát điều chưa biết. Nó như bụi sao rơi trên mi mắt trẻ thơ. Và nó như một miếng bánh mắc nơi cổ họng.
Ngài buồn, nhưng đó là một nỗi buồn dâng lên tới môi và hóa thành nụ cười.
Nó như một tấm màn vàng trong rừng khi mùa thu phủ xuống thế gian. Và đôi khi nó như ánh trăng trên bờ hồ.
Ngài cười như thể môi Ngài sắp cất tiếng hát trong tiệc cưới.
Vậy mà Ngài buồn, nỗi buồn của loài có cánh không chịu bay vút lên cao hơn bạn đồng hành của mình.
Rumanous, một nhà thơ Hy Lạp.
Ngài là một nhà thơ. Ngài thấy thay cho mắt chúng tôi và nghe thay cho tai chúng tôi, và những lời câm lặng của chúng tôi ở trên môi Ngài; và ngón tay Ngài chạm vào những gì chúng tôi không cảm thấy được.
Từ trái tim Ngài bay ra vô số chim hót, về phương bắc và phương nam, và những bông hoa nhỏ trên sườn đồi níu bước Ngài lại trên đường về trời.
Nhiều lần tôi thấy Ngài cúi xuống chạm vào những ngọn cỏ. Và trong lòng tôi nghe Ngài nói: "Những vật nhỏ xanh tươi kia, các con sẽ ở với Ta trong vương quốc của Ta, cũng như những cây sồi ở Besan và những cây bá hương Li-băng."
Ngài yêu mọi điều đẹp đẽ, những gương mặt rụt rè của trẻ thơ, và mộc dược với nhũ hương từ phương nam.
Ngài yêu một trái lựu hay một chén rượu người ta trao cho Ngài với lòng tử tế; chẳng quan trọng là của một người lạ trong quán trọ hay của một chủ nhà giàu có.
Và Ngài yêu hoa hạnh nhân. Tôi đã thấy Ngài gom hoa vào hai bàn tay, rồi úp mặt vào những cánh hoa, như thể Ngài muốn ôm lấy mọi cây cối trên thế gian bằng tình yêu của mình.
Ngài biết biển cả và bầu trời; và Ngài nói về những viên ngọc có thứ ánh sáng không phải ánh sáng này, về những vì sao ở bên kia đêm tối của chúng ta.
Ngài biết núi non như chim đại bàng biết, và biết thung lũng như suối khe biết. Và có một sa mạc trong sự im lặng của Ngài, một khu vườn trong lời nói của Ngài.
Phải, Ngài là một nhà thơ có trái tim ở trong một vòm lá bên kia những đỉnh cao, và những khúc hát của Ngài, tuy hát cho tai chúng tôi, cũng được hát cho những đôi tai khác nữa, cho những con người ở một miền đất khác, nơi sự sống mãi trẻ trung và thời gian luôn là buổi rạng đông.
Có lần tôi cũng tưởng mình là nhà thơ, nhưng khi đứng trước Ngài ở Bê-ta-ni-a, tôi mới biết thế nào là cầm một nhạc cụ chỉ có một dây trước mặt một người điều khiển được mọi nhạc cụ. Vì trong giọng Ngài có tiếng cười của sấm, nước mắt của mưa, và điệu múa vui của cây cối trong gió.
Và từ khi tôi biết rằng cây đàn lia của tôi chỉ có một dây, và giọng tôi không dệt được kỷ niệm của hôm qua lẫn hy vọng của ngày mai, tôi đã gác đàn sang một bên, và tôi sẽ giữ im lặng. Nhưng mỗi khi chiều xuống, tôi sẽ lắng tai, và tôi sẽ nghe Nhà Thơ, Đấng là vua của mọi nhà thơ.
Lê-vi, một môn đệ.
Một chiều kia, Ngài đi ngang qua nhà tôi, và linh hồn tôi bừng tỉnh trong tôi.
Ngài nói với tôi: "Lê-vi, hãy đến và theo Ta."
Và ngay hôm ấy tôi đi theo Ngài.
Rồi chiều hôm sau, tôi nài xin Ngài vào nhà tôi làm khách. Ngài và các bạn Ngài bước qua ngưỡng cửa nhà tôi, và chúc lành cho tôi, cho vợ tôi và các con tôi.
Tôi còn có những người khách khác. Họ là những người thu thuế và những người có học, nhưng trong lòng họ chống lại Ngài.
Khi chúng tôi ngồi quanh bàn, một trong những người thu thuế hỏi Chúa Giê-su: "Có thật là ông và các môn đệ ông phạm luật, nhóm lửa trong ngày sa-bát không?"
Chúa Giê-su trả lời: "Chúng tôi quả có nhóm lửa trong ngày sa-bát. Chúng tôi muốn làm cho ngày sa-bát bừng cháy, và muốn lấy tay mình đốt rụi gốc rạ khô của mọi ngày."
Một người thu thuế khác nói: "Có người báo cho chúng tôi rằng ông uống rượu với những kẻ ô uế trong quán trọ."
Chúa Giê-su đáp: "Phải, cả những người ấy chúng tôi cũng muốn an ủi. Chúng tôi đến đây há chẳng phải để chia ổ bánh và chén rượu với những kẻ không mũ miện, không giày dép giữa các ông sao?"
"Ít, phải, quá ít những con chim chưa mọc lông mà dám đương đầu với gió, còn nhiều con có cánh, lông đã đủ, mà vẫn nằm trong tổ."
"Và chúng tôi muốn lấy mỏ mình mớm cho tất cả, cả con chậm chạp lẫn con nhanh nhẹn."
Một người thu thuế khác nói: "Chẳng phải tôi đã nghe nói ông bênh vực những người đàn bà bán thân ở Giê-ru-sa-lem sao?"
Lúc ấy trên gương mặt Chúa Giê-su, tôi thấy như những đỉnh núi đá của Li-băng, và Ngài nói: "Điều đó đúng."
"Vào ngày phán xét, những người đàn bà ấy sẽ đứng lên trước ngai Cha Ta, và họ sẽ được tinh sạch nhờ chính nước mắt của mình. Còn các ông sẽ bị giữ lại dưới xiềng xích của chính sự phán xét của mình."
"Thành Ba-by-lon không bị tàn phá vì những người đàn bà bán thân của nó; Ba-by-lon sụp đổ thành tro, để mắt của những kẻ giả hình trong thành không còn được thấy ánh sáng ban ngày nữa."
Những người thu thuế khác còn muốn hỏi Ngài nữa, nhưng tôi ra dấu bảo họ im, vì tôi biết Ngài sẽ làm họ cứng họng; mà họ cũng là khách của tôi, và tôi không muốn họ phải bẽ mặt.
Khi tới nửa đêm, những người thu thuế rời nhà tôi, linh hồn họ đi khập khiễng.
Rồi tôi nhắm mắt lại, và tôi thấy, như trong một thị kiến, bảy người đàn bà mặc áo trắng đứng quanh Chúa Giê-su. Tay họ khoanh trước ngực, đầu họ cúi xuống, và tôi nhìn sâu vào màn sương của giấc mơ, và thấy gương mặt của một trong bảy người đàn bà ấy, gương mặt sáng lên trong bóng tối của tôi.
Đó là gương mặt của một người đàn bà bán thân sống ở Giê-ru-sa-lem.
Rồi tôi mở mắt ra nhìn Ngài, và Ngài đang mỉm cười với tôi và với những người khác còn ngồi lại bên bàn.
Và tôi lại nhắm mắt, và tôi thấy trong một vầng sáng có bảy người đàn ông mặc áo trắng đứng quanh Ngài. Và tôi nhìn thấy gương mặt của một người trong số họ.
Đó là gương mặt của người trộm về sau bị đóng đinh bên phải Ngài.
Rồi sau đó Chúa Giê-su và các bạn đồng hành của Ngài rời nhà tôi mà lên đường.
Một bà góa ở Ga-li-lê.
Con trai tôi là đứa con đầu lòng và cũng là đứa con duy nhất của tôi. Nó làm lụng trên ruộng nhà, và nó vẫn bằng lòng với đời mình, cho tới khi nó nghe cái người tên Giê-su nói với đám đông.
Rồi con tôi bỗng đổi khác, như thể có một thần khí mới, xa lạ và độc hại, đã ôm lấy tâm hồn nó.
Nó bỏ ruộng, bỏ vườn; và nó bỏ cả tôi. Nó thành ra vô dụng, thành một kẻ lang thang ngoài đường cái.
Cái ông Giê-su người Na-da-rét ấy là kẻ ác, vì người tốt nào lại đi chia lìa con với mẹ?