Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người

Người Lân Cận Là Chính Mình Chưa Biết, Hiện Ra

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe ba người kể: ông Giô-xếp người A-ri-ma-thê, ông Na-tha-na-en, và ông Saba ở thành An-ti-ô-khi-a.

Giô-xếp người A-ri-ma-thê.

Bạn muốn biết mục đích ban đầu của Chúa Giê-su, và tôi cũng rất muốn nói cho bạn hay. Nhưng không ai lấy ngón tay chạm được vào sự sống của rượu thánh, cũng không ai nhìn thấy dòng nhựa nuôi các cành nho.

Và dù tôi đã ăn những chùm nho ấy, đã nếm rượu mới ở bồn ép, tôi vẫn không thể kể cho bạn hết mọi điều.

Tôi chỉ có thể kể lại những gì tôi biết về Ngài.

Thầy của chúng tôi, Người Yêu Dấu của chúng tôi, chỉ sống qua ba mùa của một ngôn sứ. Đó là mùa xuân của tiếng hát Ngài, mùa hạ của niềm ngây ngất nơi Ngài, và mùa thu của cuộc khổ nạn Ngài; và mỗi mùa là một nghìn năm.

Mùa xuân của tiếng hát Ngài trôi qua ở Ga-li-lê. Chính ở đó Ngài quy tụ những người thương Ngài về quanh mình, và chính trên bờ hồ xanh ấy, lần đầu tiên Ngài nói về Chúa Cha, về sự giải thoát và sự tự do của chúng tôi.

Bên Biển Hồ Ga-li-lê, chúng tôi đánh mất mình để tìm ra đường về với Chúa Cha; ôi, sự mất mát nhỏ, thật nhỏ ấy, đã hóa thành một điều được lớn lao biết bao.

Chính ở đó các thiên thần hát bên tai chúng tôi, và bảo chúng tôi bỏ vùng đất khô cằn mà đến khu vườn của lòng mong ước.

Ngài nói về những cánh đồng và những đồng cỏ xanh; về những sườn núi Li-băng, nơi những bông huệ trắng chẳng màng gì tới những đoàn lữ hành đi qua trong bụi đất dưới thung lũng.

Ngài nói về bụi tầm xuân dại mỉm cười trong nắng, và dâng hương thơm của mình cho làn gió thoảng qua.

Và Ngài thường nói: "Hoa huệ và tầm xuân chỉ sống một ngày, nhưng ngày ấy là cõi đời đời được sống trong tự do."

Và một chiều kia, khi chúng tôi ngồi bên dòng suối, Ngài nói: "Hãy nhìn con suối và nghe tiếng nhạc của nó. Nó sẽ mãi mãi đi tìm biển, và dù mãi đi tìm, nó vẫn hát lên điều bí nhiệm của mình từ trưa này sang trưa khác."

"Ước gì anh em tìm Chúa Cha như con suối tìm biển."

Rồi đến mùa hạ của niềm ngây ngất nơi Ngài, và tháng Sáu của tình yêu Ngài phủ lên chúng tôi. Khi ấy Ngài không nói gì khác ngoài người kia: người lân cận, người bạn đồng hành trên đường, người khách lạ, và những bạn chơi thuở nhỏ của chúng tôi.

Ngài nói về người lữ khách đi từ phương đông xuống Ai Cập, về người thợ cày dắt bò về nhà lúc chiều tối, về người khách tình cờ được bóng hoàng hôn dẫn tới cửa nhà mình.

Và Ngài thường nói: "Người lân cận của anh em là chính anh em, cái phần anh em chưa biết, nay hiện ra cho mắt thấy. Gương mặt người ấy sẽ in bóng trên mặt nước lặng của anh em, và nếu anh em nhìn vào đó, anh em sẽ thấy dung mạo của chính mình."

"Nếu anh em lắng nghe trong đêm, anh em sẽ nghe người ấy nói, và lời người ấy sẽ là nhịp đập của chính trái tim anh em."

"Anh em muốn người ấy đối với mình thế nào, thì hãy đối với người ấy như vậy."

"Đây là luật của Thầy, và Thầy sẽ nói luật ấy cho anh em, cho con cái anh em, và con cái anh em sẽ nói lại cho con cái chúng, cho tới khi thời gian cạn hết và không còn các thế hệ nữa."

Và một hôm khác Ngài nói: "Anh em sẽ không chỉ là riêng mình anh em. Anh em ở trong việc làm của những người khác, và họ, dù không hay biết, vẫn ở với anh em suốt mọi ngày đời anh em."

"Họ không phạm một tội ác nào mà bàn tay anh em lại không ở cùng bàn tay họ."

"Họ không ngã xuống mà anh em lại không cùng ngã xuống; và họ không đứng dậy mà anh em lại không đứng dậy với họ."

"Con đường họ đi tới nơi thánh là con đường của anh em, và khi họ tìm tới chốn hoang vu, anh em cũng cùng tìm với họ."

"Anh em và người lân cận là hai hạt giống gieo trên cùng một cánh đồng. Anh em cùng nhau lớn lên, và cùng nhau đung đưa trong gió. Và không ai trong hai người được giành cánh đồng làm của mình. Vì một hạt giống đang trên đường lớn lên thì đến niềm ngây ngất của chính mình nó cũng chẳng giành lấy."

"Hôm nay Thầy ở với anh em. Ngày mai Thầy đi về phía tây; nhưng trước khi đi, Thầy nói với anh em rằng người lân cận của anh em là chính anh em, cái phần anh em chưa biết, nay hiện ra cho mắt thấy. Hãy tìm người ấy trong tình thương để anh em biết chính mình, vì chỉ trong sự hiểu biết ấy, anh em mới trở thành anh em của Thầy."

Rồi đến mùa thu của cuộc khổ nạn nơi Ngài.

Và Ngài nói với chúng tôi về tự do, cũng như Ngài đã nói ở Ga-li-lê trong mùa xuân tiếng hát của Ngài; nhưng giờ đây lời Ngài đòi chúng tôi hiểu sâu hơn.

Ngài nói về những chiếc lá chỉ hát khi được gió thổi qua; và nói về con người như một cái chén được vị thiên thần phục vụ của ban ngày rót đầy, để làm dịu cơn khát của một thiên thần khác. Nhưng dù chén ấy đầy hay vơi, nó vẫn sẽ đứng trong suốt như pha lê trên bàn tiệc của Đấng Tối Cao.

Ngài nói: "Anh em là cái chén, và anh em là rượu. Hãy uống chính mình cho tới cặn; hoặc hãy nhớ đến Thầy, và anh em sẽ hết khát."

Và trên đường xuống phía nam, Ngài nói: "Giê-ru-sa-lem, thành đang đứng kiêu hãnh trên cao kia, sẽ rơi xuống tận đáy Gia-han-num, thung lũng tối tăm, và giữa cảnh hoang tàn của thành, Thầy sẽ đứng một mình."

"Đền Thờ sẽ đổ nát thành bụi, và quanh hàng cột ở cổng, anh em sẽ nghe tiếng kêu khóc của những bà góa và trẻ mồ côi; và người ta, trong lúc vội vàng chạy trốn, sẽ không còn nhận ra mặt anh em mình, vì nỗi sợ sẽ đè lên hết thảy."

"Nhưng ngay cả ở đó, nếu hai người trong anh em gặp nhau, gọi tên Thầy và nhìn về phía tây, anh em sẽ thấy Thầy, và những lời này của Thầy sẽ lại về bên tai anh em."

Và khi chúng tôi tới ngọn đồi Bê-ta-ni-a, Ngài nói: "Chúng ta hãy lên Giê-ru-sa-lem. Thành đang đợi chúng ta. Thầy sẽ cưỡi một con lừa con mà vào cổng thành, và Thầy sẽ nói với đám đông."

"Ở đó có nhiều kẻ muốn xiềng Thầy lại, và nhiều kẻ muốn dập tắt ngọn lửa của Thầy, nhưng trong cái chết của Thầy, anh em sẽ tìm thấy sự sống, và anh em sẽ được tự do."

"Họ sẽ tìm cho được hơi thở đang lượn giữa trái tim và khối óc, như con én lượn giữa cánh đồng và tổ của nó. Nhưng hơi thở của Thầy đã thoát khỏi tay họ, và họ sẽ không thắng được Thầy."

"Những bức tường Cha Thầy đã xây quanh Thầy sẽ không sụp đổ, và mảnh đất Ngài đã làm cho nên thánh sẽ không bị ô uế."

"Khi bình minh tới, mặt trời sẽ đội vương miện lên đầu Thầy, và Thầy sẽ ở với anh em để đón ngày mới. Và ngày ấy sẽ dài, và thế gian sẽ không thấy buổi chiều của nó."

"Các kinh sư và người Pha-ri-sêu nói rằng đất đang khát máu Thầy. Thầy sẽ lấy máu mình làm dịu cơn khát của đất. Nhưng những giọt máu ấy sẽ mọc lên thành cây sồi, cây phong, và phương đông sẽ mang những hạt sồi tới những miền đất khác."

Rồi Ngài nói: "Giu-đê muốn có một vị vua, và muốn tiến quân đánh các đạo binh Rô-ma."

"Thầy sẽ không làm vua của nó. Những vương miện của Xi-on được làm ra cho những vầng trán nhỏ hơn. Và chiếc nhẫn của vua Sa-lô-môn thì quá nhỏ cho ngón tay này."

"Hãy nhìn bàn tay Thầy. Anh em không thấy sao, nó quá mạnh để cầm một cây vương trượng, và quá gân guốc để vung một thanh gươm tầm thường?"

"Không, Thầy sẽ không đem xác thịt người Sy-ri ra chống lại người Rô-ma. Nhưng anh em, với lời của Thầy, sẽ đánh thức thành ấy, và thần khí Thầy sẽ nói với buổi bình minh thứ hai của thành."

"Lời Thầy sẽ là một đạo quân vô hình, có ngựa và chiến xa, và không cần rìu hay giáo, Thầy sẽ chinh phục các tư tế ở Giê-ru-sa-lem, và cả các hoàng đế Xê-da."

"Thầy sẽ không ngồi trên một ngai vàng nơi những kẻ nô lệ đã ngồi và cai trị những kẻ nô lệ khác. Thầy cũng sẽ không nổi dậy chống lại con cái nước Ý."

"Nhưng Thầy sẽ là một cơn giông trên bầu trời của họ, và một khúc hát trong linh hồn họ."

"Và người ta sẽ nhớ đến Thầy."

"Người ta sẽ gọi Thầy là Giê-su, Đấng được Xức Dầu."

Những điều ấy Ngài đã nói bên ngoài tường thành Giê-ru-sa-lem, trước khi Ngài vào thành.

Và lời Ngài khắc sâu như được chạm bằng đục.

Na-tha-na-en.

Người ta nói rằng Giê-su thành Na-da-rét khiêm nhường và hiền lành.

Người ta nói rằng tuy Ngài là người công chính và ngay thẳng, Ngài lại yếu đuối, thường bị kẻ mạnh và kẻ quyền thế làm cho bối rối; và khi đứng trước những người có quyền, Ngài chỉ là một con chiên giữa bầy sư tử.

Nhưng tôi nói rằng Chúa Giê-su có uy quyền trên người ta, và Ngài biết sức mạnh của mình, và đã công bố sức mạnh ấy giữa những ngọn đồi Ga-li-lê, trong các thành của Giu-đê và Phê-ni-xi.

Người nào nhu nhược, mềm yếu lại dám nói: "Ta là sự sống, và Ta là con đường dẫn tới chân lý"?

Người nào hiền lành, thấp hèn lại dám nói: "Ta ở trong Thiên Chúa, Cha chúng ta; và Thiên Chúa chúng ta, là Cha, ở trong Ta"?

Người nào không biết sức mình lại dám nói: "Ai không tin vào Ta thì không tin vào đời này, cũng không tin vào sự sống đời đời"?

Người nào không chắc gì về ngày mai lại dám tuyên bố: "Thế giới của các ngươi sẽ qua đi, chẳng còn gì ngoài tro bụi tản mác, trước khi lời Ta qua đi"?

Ngài có nghi ngờ chính mình chăng, khi Ngài nói với những kẻ muốn làm khó Ngài bằng chuyện một người đàn bà bán thân: "Ai không có tội, người ấy hãy ném đá"?

Ngài có sợ quyền thế chăng, khi Ngài đuổi những kẻ đổi tiền ra khỏi sân Đền Thờ, dù họ được các tư tế cho phép?