Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người

Nó Đã Lạc Mất Mà Nay Đã Tìm Lại Được

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe ba người kể: một người Lê-vi giàu có từng thuê Chúa Giê-su làm thợ mộc, một người chăn chiên ở miền nam Li-băng, và Gio-an Tẩy Giả, nhắn lời từ trong ngục tối.

Một người Lê-vi giàu có ở gần Na-da-rét.

Ngài là một người thợ mộc giỏi. Những cánh cửa Ngài làm chưa bao giờ bị kẻ trộm mở được, và những khung cửa sổ Ngài làm lúc nào cũng sẵn sàng mở ra đón gió đông và gió tây.

Ngài làm những cái rương bằng gỗ bá hương, bóng láng và bền chắc, và những cái cày, những cái chĩa ba chắc khỏe mà cầm lên thì vừa tay.

Ngài còn chạm những giá đọc sách cho các hội đường của chúng tôi. Ngài chạm chúng từ gỗ dâu vàng; hai bên chân giá, nơi đặt cuốn sách thánh, Ngài đục những đôi cánh xòe rộng; còn dưới chân giá thì Ngài đục đầu bò, chim bồ câu, và những con nai mắt to.

Tất cả những thứ ấy Ngài làm theo kiểu người Can-đê và người Hy Lạp. Nhưng trong tay nghề của Ngài có một điều gì đó không phải của người Can-đê, cũng không phải của người Hy Lạp.

Ngôi nhà này của tôi được nhiều bàn tay dựng lên cách đây ba mươi năm. Tôi đã đi tìm thợ xây, thợ mộc ở khắp các thị trấn miền Ga-li-lê. Ai cũng có tay nghề, có nghệ thuật xây cất, và tôi hài lòng, vừa ý với tất cả những gì họ làm.

Nhưng anh lại đây mà coi hai cánh cửa và một khung cửa sổ do Giê-su thành Na-da-rét làm. Nhờ vững chãi, chúng như cười nhạo mọi thứ khác trong nhà tôi.

Anh không thấy hai cánh cửa này khác hẳn mọi cánh cửa khác sao? Và khung cửa sổ mở về hướng đông này, không phải là khác với những cửa sổ khác sao?

Mọi cửa lớn, cửa sổ trong nhà tôi đều đã chịu thua năm tháng, chỉ trừ những cái Ngài làm. Chỉ có chúng còn đứng vững trước mưa nắng gió sương.

Và coi mấy cây xà ngang kia, Ngài đặt chúng ra sao; và mấy cây đinh này, Ngài đóng từ một mặt tấm ván, rồi bẻ quặp lại, ghim chặt chắc chắn ở mặt bên kia ra sao.

Và điều lạ lùng hết sức là người thợ ấy, đáng được trả công bằng hai người, mà chỉ nhận tiền công của một người; và chính người thợ ấy, nay lại được coi là một ngôn sứ trong Ít-ra-en.

Phải chi hồi đó tôi biết chàng trai cầm cưa cầm bào ấy là một ngôn sứ, thì tôi đã xin Ngài nói thay vì làm, rồi tôi sẽ trả cho Ngài thật hậu cho những lời Ngài nói.

Và bây giờ tôi vẫn còn nhiều người làm trong nhà, ngoài ruộng. Làm sao tôi biết được đâu là người mà chỉ có bàn tay mình cầm đồ nghề, và đâu là người mà trên bàn tay họ có bàn tay Thiên Chúa đặt lên?

Phải, làm sao tôi biết được bàn tay của Thiên Chúa?

Một người chăn chiên ở miền nam Li-băng.

Hồi đó là cuối mùa hè, lần đầu tiên Ngài cùng ba người đàn ông khác đi trên con đường đằng kia. Trời đã chiều, Ngài dừng lại, đứng ở chỗ kia, cuối bãi cỏ.

Tôi đang thổi sáo, và đàn chiên của tôi đang gặm cỏ quanh tôi. Khi Ngài dừng lại, tôi đứng dậy, đi tới, đứng trước mặt Ngài.

Ngài hỏi tôi: "Mộ của Ê-li-a ở đâu? Có phải ở đâu gần chỗ này không?"

Tôi trả lời Ngài: "Thưa ông, ở đằng kia, dưới đống đá lớn kia. Cho tới tận hôm nay, ai đi ngang qua cũng mang theo một hòn đá đặt lên đống đá ấy."

Ngài cảm ơn tôi rồi đi, và các bạn của Ngài đi theo sau.

Ba ngày sau, Ga-ma-li-ên, cũng là một người chăn chiên, nói với tôi rằng người đàn ông đi ngang hôm nọ là một ngôn sứ ở Giu-đê; nhưng tôi không tin anh ta. Vậy mà tôi cứ nghĩ về người đàn ông ấy suốt nhiều tuần trăng.

Khi mùa xuân tới, Chúa Giê-su lại đi ngang qua bãi cỏ này một lần nữa, và lần này Ngài đi một mình.

Hôm đó tôi không thổi sáo, vì tôi đã lạc mất một con chiên, lòng tôi như mất người thân, buồn rầu héo hắt.

Tôi đi về phía Ngài và đứng lặng trước mặt Ngài, vì tôi mong được an ủi.

Ngài nhìn tôi mà nói: "Hôm nay anh không thổi sáo. Nỗi buồn trong mắt anh từ đâu mà ra vậy?"

Tôi trả lời: "Một con chiên trong đàn chiên của tôi bị lạc. Tôi đã đi tìm nó khắp nơi mà không thấy. Tôi không biết phải làm sao."

Ngài lặng im một lúc. Rồi Ngài mỉm cười với tôi mà nói: "Anh đợi ở đây một chút, Ta sẽ tìm con chiên cho anh." Rồi Ngài đi, khuất vào giữa những ngọn đồi.

Một giờ sau Ngài trở lại, và con chiên của tôi theo sát sau lưng Ngài. Khi Ngài đứng trước mặt tôi, con chiên ngước lên nhìn mặt Ngài, cũng như tôi đang nhìn. Rồi tôi ôm lấy nó, mừng rỡ.

Ngài đặt tay lên vai tôi mà nói: "Từ hôm nay anh sẽ thương con chiên này hơn mọi con khác trong đàn, vì nó đã lạc mất mà nay đã tìm lại được."

Và tôi lại ôm con chiên của tôi, mừng rỡ, nó nép sát vào tôi, và tôi lặng im.

Nhưng khi tôi ngẩng đầu lên để cảm ơn Chúa Giê-su, thì Ngài đã đi xa rồi, và tôi không đủ can đảm để đi theo Ngài.

Gio-an Tẩy Giả, nói với một môn đệ của mình.

Ta không im lặng trong cái hố hôi hám này khi tiếng của Giê-su đang vang trên chiến trường. Ta không bị giữ, cũng không bị giam, khi Ngài còn tự do.

Người ta bảo ta rằng lũ rắn độc đang quấn quanh hông Ngài, nhưng ta đáp: Lũ rắn độc sẽ đánh thức sức mạnh của Ngài, và Ngài sẽ lấy gót chân mà giẫm nát chúng.

Ta chỉ là tiếng sấm của tia chớp nơi Ngài. Dù ta lên tiếng trước, nhưng lời và ý định là của Ngài.

Chúng bắt ta khi ta không phòng bị. Có lẽ chúng cũng sẽ tra tay bắt Ngài. Nhưng không phải trước khi Ngài đã nói hết lời của Ngài. Và Ngài sẽ thắng chúng.

Xe của Ngài sẽ cán qua chúng, vó ngựa của Ngài sẽ giẫm lên chúng, và Ngài sẽ khải hoàn.

Chúng sẽ kéo ra với giáo với gươm, nhưng Ngài sẽ đón chúng bằng quyền năng của Thần Khí.

Máu Ngài sẽ chảy trên mặt đất, nhưng chính chúng sẽ biết những vết thương và nỗi đau của máu ấy, và chúng sẽ chịu phép rửa trong nước mắt của mình, cho tới khi sạch hết tội lỗi.

Đạo quân của chúng sẽ tiến về các thành của Ngài với những chiếc chày phá thành bằng sắt, nhưng dọc đường chúng sẽ chết đuối dưới sông Gio-đan.

Còn tường thành và tháp canh của Ngài sẽ vươn cao hơn, và khiên của các chiến binh Ngài sẽ sáng chói hơn dưới mặt trời.

Người ta nói ta với Ngài là cùng một phe, và mưu đồ của chúng ta là xúi dân nổi dậy chống lại vương quốc Giu-đê.

Ta trả lời, và ước gì lời ta là những ngọn lửa: nếu chúng coi cái hố tội ác này là một vương quốc, thì hãy để nó sụp đổ tan tành và không còn nữa. Hãy để nó đi theo con đường của Xơ-đôm và Gô-mô-ra, hãy để Thiên Chúa quên giống nòi này, và để đất này hóa thành tro bụi.

Phải, sau những bức tường ngục này, quả thật ta là đồng minh của Giê-su thành Na-da-rét, và Ngài sẽ cầm đầu đạo quân của ta, cả kỵ binh lẫn bộ binh. Còn chính ta, dù là một người chỉ huy, cũng không đáng cởi dây giày cho Ngài.

Con hãy đi tới Ngài và nhắc lại những lời ta nói, rồi nhân danh ta, xin Ngài ban cho ta niềm an ủi và phúc lành.

Ta sẽ không ở đây lâu nữa. Ban đêm, giữa hai lần thức giấc, ta cảm thấy những bàn chân chậm rãi, từng bước đều đặn, giẫm lên trên thân xác này. Và khi ta lắng nghe, ta nghe tiếng mưa rơi trên mồ của ta.

Con hãy đến với Giê-su, và nói rằng Gio-an ở Kít-rôn, người có linh hồn đầy những bóng tối rồi lại trống không, đang cầu nguyện cho Ngài, trong khi người đào huyệt đứng gần bên, và tên đao phủ đã chìa tay ra đòi tiền công.

Hết phần đọc đêm nay.

Mình cứ nhớ con chiên lạc ngước lên nhìn mặt Ngài, y như người chăn chiên đang nhìn. Nếu có lúc bạn thấy mình lạc giữa mấy ngọn đồi, mong là cũng có một bàn tay đặt lên vai bạn, cho bạn biết mình đã được tìm lại. Hẹn bạn lần sau, mình đọc tiếp "Giê-su Con Người" nghen.