Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người
Anh Em Là Muối Cho Mặt Đất
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe ba người kể: Mát-thêu nhớ lại bài giảng trên núi, Gio-an con ông Dê-bê-đê giải nghĩa những danh xưng của Ngài, và một thầy tư tế trẻ ở Ca-phác-na-um, người ghét Ngài.
Mát-thêu.
Bài giảng trên núi.
Một ngày mùa gặt, Chúa Giê-su gọi chúng tôi và những người bạn khác của Ngài lên đồi. Đất trời thơm ngát, và như con gái một vị vua trong tiệc cưới của mình, mặt đất đeo hết mọi món trang sức. Còn bầu trời là chàng rể của nàng.
Khi chúng tôi lên tới chỗ cao, Chúa Giê-su đứng lặng trong lùm cây nguyệt quế, và Ngài nói: "Hãy nghỉ ở đây, lắng lòng mình xuống và lên dây cho trái tim mình, vì Thầy có nhiều điều muốn nói với anh em."
Chúng tôi ngả mình trên cỏ, hoa mùa hạ ở khắp quanh chúng tôi, và Chúa Giê-su ngồi ở giữa.
Rồi Chúa Giê-su nói:
"Phúc thay ai có tâm hồn thanh thản.
"Phúc thay ai không bị của cải níu giữ, vì họ sẽ được tự do.
"Phúc thay ai nhớ nỗi đau của mình, và trong nỗi đau ấy chờ đợi niềm vui của mình.
"Phúc thay ai đói khát chân lý và cái đẹp, vì cơn đói của họ sẽ đem lại bánh, và cơn khát của họ sẽ đem lại nước mát.
"Phúc thay ai hiền hậu, vì họ sẽ được an ủi bởi chính lòng hiền hậu của mình.
"Phúc thay ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ nên một với Thiên Chúa.
"Phúc thay ai biết thương xót, vì lòng thương xót sẽ là phần của họ.
"Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì tâm hồn họ sẽ ở trên cao, vượt khỏi trận chiến, và họ sẽ biến bãi đất của người thợ gốm thành một khu vườn.
"Phúc thay ai bị săn đuổi, vì họ sẽ nhanh chân, và họ sẽ có cánh.
"Hãy vui mừng hớn hở, vì anh em đã tìm thấy Nước Trời ở trong mình. Những người ca hát thuở xưa đã bị bách hại khi họ hát về Nước ấy. Anh em cũng sẽ bị bách hại, và vinh dự của anh em ở đó, phần thưởng của anh em ở đó.
"Anh em là muối cho mặt đất; nếu muối mất vị mặn, thì lấy gì mà ướp cho món ăn của lòng người?
"Anh em là ánh sáng cho thế gian. Đừng đặt ánh sáng ấy dưới cái thùng. Thà hãy để nó chiếu từ trên đỉnh cao, cho những ai đang đi tìm Thành của Thiên Chúa.
"Đừng tưởng Thầy đến để hủy bỏ luật của các kinh sư và người Pha-ri-sêu; vì những ngày Thầy ở giữa anh em đã được đếm, và lời Thầy đã được tính, và Thầy chỉ còn ít giờ để hoàn tất một luật khác và tỏ ra một giao ước mới.
"Anh em đã nghe bảo rằng chớ giết người, nhưng Thầy bảo anh em, chớ giận ai vô cớ.
"Người xưa đã dặn anh em đem bò con, chiên con và chim câu của mình lên đền thờ, giết chúng trên bàn thờ, để mũi của Thiên Chúa được hưởng mùi mỡ của chúng, và để anh em được tha những lỗi lầm của mình.
"Nhưng Thầy bảo anh em, lẽ nào anh em lại muốn dâng cho Thiên Chúa cái vốn đã là của Ngài từ thuở ban đầu; và lẽ nào anh em lại muốn làm nguôi lòng Đấng có ngai ở trên vực thẳm lặng im, và có cánh tay ôm lấy cả không gian?
"Thà hãy đi tìm anh em mình mà làm hòa với họ, trước khi tìm tới đền thờ; và hãy là người cho đi với lòng thương đối với người lân cận. Vì trong linh hồn những người ấy, Thiên Chúa đã xây một đền thờ không bao giờ bị phá đổ, và trong trái tim họ, Ngài đã dựng một bàn thờ không bao giờ mất.
"Anh em đã nghe bảo, mắt đền mắt, răng đền răng. Nhưng Thầy bảo anh em: Đừng chống lại điều ác, vì chống lại là thức ăn nuôi điều ác và làm nó mạnh lên. Chỉ kẻ yếu mới muốn trả thù. Người có linh hồn mạnh mẽ thì tha thứ, và với người bị xúc phạm, tha thứ là một vinh dự.
"Chỉ cây sai trái mới bị rung, bị ném đá để lấy trái ăn.
"Đừng bận lòng về ngày mai, mà hãy nhìn ngắm ngày hôm nay, vì ngày nào có phép lạ của ngày ấy là đủ rồi.
"Khi cho đi, đừng quá bận tâm về mình, mà hãy để tâm tới điều người ta cần. Vì mọi người cho đi đều chính mình nhận lãnh từ Chúa Cha, mà còn nhận dồi dào hơn biết bao.
"Và hãy cho mỗi người theo điều họ cần; vì Chúa Cha không cho muối người đang khát, không cho đá người đang đói, cũng không cho sữa đứa trẻ đã thôi bú.
"Và đừng đem của thánh mà cho chó; cũng đừng ném ngọc trai của mình trước mặt heo. Vì với những món quà như thế, anh em chế giễu chúng; rồi chúng cũng sẽ chế giễu món quà của anh em, và trong lòng căm ghét, chúng sẽ muốn hủy diệt anh em.
"Đừng tích trữ cho mình những kho báu hư nát, hay những kho báu kẻ trộm có thể lấy đi. Thà hãy tích trữ kho báu không hư nát và không bị trộm mất, kho báu càng có nhiều đôi mắt ngắm nhìn thì càng thêm đẹp. Vì kho báu của anh em ở đâu, thì lòng anh em cũng ở đó.
"Anh em đã nghe bảo rằng kẻ giết người phải chịu gươm, kẻ trộm phải bị đóng đinh, và người đàn bà làm điếm phải bị ném đá. Nhưng Thầy bảo anh em rằng anh em không vô can trước lỗi lầm của kẻ giết người, kẻ trộm và người đàn bà làm điếm, và khi thân xác họ bị trừng phạt, thì tâm hồn của chính anh em cũng bị tối lại.
"Quả thật, không có tội ác nào do một người đàn ông hay một người đàn bà gây ra. Mọi tội ác đều do tất cả mọi người gây ra. Và người chịu hình phạt có khi đang bẻ gãy một mắt xích của sợi xích đang đeo nơi cổ chân của chính anh em. Có lẽ người ấy đang trả, bằng nỗi đau của mình, cái giá cho niềm vui chóng qua của anh em."
Chúa Giê-su đã nói như vậy, và lòng tôi muốn quỳ xuống thờ lạy Ngài, nhưng vì e thẹn, tôi không nhúc nhích được, cũng không nói được lời nào.
Nhưng cuối cùng tôi cũng lên tiếng; tôi thưa: "Con muốn cầu nguyện ngay lúc này, mà lưỡi con nặng quá. Xin Thầy dạy con cầu nguyện."
Chúa Giê-su nói: "Khi con muốn cầu nguyện, hãy để niềm khao khát của con nói nên lời. Lúc này đây, lòng Thầy khao khát được cầu nguyện như vầy:
"Lạy Cha chúng con ở dưới đất và trên trời, danh Cha là thánh.
Ý Cha được thể hiện nơi chúng con, cũng như trong khắp không gian.
Xin cho chúng con bánh của Cha, đủ dùng mỗi ngày.
Xin Cha lấy lòng thương xót mà tha thứ cho chúng con, và mở rộng lòng chúng con để chúng con tha thứ cho nhau.
Xin dẫn chúng con về với Cha, và đưa tay Cha xuống với chúng con trong bóng tối.
Vì Nước là của Cha, và nơi Cha là sức mạnh và sự viên mãn của chúng con."
Bấy giờ trời đã về chiều, Chúa Giê-su đi xuống đồi, và tất cả chúng tôi theo Ngài. Và trong khi đi theo, tôi cứ lặp lại lời cầu nguyện của Ngài, và nhớ lại mọi điều Ngài đã nói; vì tôi biết những lời hôm ấy đã rơi xuống như những bông tuyết thì sẽ phải đông lại, cứng lại như pha lê, và những đôi cánh từng chập chờn trên đầu chúng tôi rồi sẽ nện xuống mặt đất như những vó ngựa bằng sắt.
Gio-an, con ông Dê-bê-đê.
Anh đã để ý thấy có người trong chúng tôi gọi Chúa Giê-su là Đức Ki-tô, có người gọi Ngài là Ngôi Lời, có người khác gọi Ngài là người Na-da-rét, lại có người gọi Ngài là Con Người.
Tôi sẽ cố làm cho những danh xưng ấy sáng tỏ, theo ánh sáng đã được ban cho tôi.
Đức Ki-tô, Đấng đã có từ thuở ngày xưa, là ngọn lửa của Thiên Chúa ngự trong tâm hồn con người. Ngài là hơi thở sự sống đến thăm chúng ta, và mặc lấy một thân thể như thân thể chúng ta.
Ngài là ý muốn của Chúa.
Ngài là Lời đầu tiên, Lời muốn nói bằng giọng nói của chúng ta, và sống trong tai chúng ta, để chúng ta lắng nghe và hiểu.
Và Lời của Chúa, Thiên Chúa chúng ta, đã xây cho mình một ngôi nhà bằng thịt và xương, và đã làm người như anh và như tôi.
Vì chúng ta không thể nghe được tiếng hát của ngọn gió không hình hài, cũng không thể thấy được con người lớn hơn của chính mình đang đi trong sương mù.
Đã nhiều lần Đức Ki-tô đến với thế gian, và Ngài đã đi qua nhiều xứ sở. Và lần nào Ngài cũng bị coi là người xa lạ, là kẻ điên.
Vậy mà tiếng nói của Ngài chưa bao giờ rơi vào khoảng trống, vì trí nhớ của con người vẫn giữ lại những gì đầu óc họ chẳng buồn giữ.
Ấy là Đức Ki-tô, Đấng ở tận nơi sâu thẳm nhất và ở tận chốn cao vời, Đấng cùng đi với con người về phía vĩnh cửu.
Anh chưa từng nghe nói về Ngài ở những ngã tư đường bên Ấn Độ sao? Và ở xứ của các đạo sĩ, và trên những bãi cát Ai Cập?
Và ở đây, nơi xứ phương Bắc của anh, các thi sĩ thuở xưa đã hát về Prometheus, người mang lửa đến, người là ước vọng của con người đã thành sự thật, là niềm hy vọng bị nhốt trong lồng nay được thả tự do; và về Orpheus, người đến với một giọng hát và một cây đàn lia, để làm sống dậy tâm hồn trong muông thú và con người.
Và anh không biết về vua Mithra, và về Zoroaster, nhà tiên tri của người Ba Tư, những người đã thức dậy khỏi giấc ngủ ngàn xưa của con người, và đứng bên giường giấc mơ của chúng ta sao?
Chính chúng ta cũng trở thành con người được xức dầu khi chúng ta gặp nhau trong Đền Thờ Vô Hình, mỗi nghìn năm một lần. Khi ấy có một Đấng bước ra trong hình hài thân xác, và khi Ngài đến, sự im lặng của chúng ta hóa thành tiếng hát.
Vậy mà tai chúng ta không phải lúc nào cũng hướng về để nghe, mắt chúng ta không phải lúc nào cũng hướng về để thấy.
Giê-su người Na-da-rét đã sinh ra và lớn lên như chúng ta; mẹ và cha của Ngài cũng như cha mẹ chúng ta, và Ngài là một con người.