Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người
Thứ Rượu Ngon Nhất Và Lâu Năm Nhất
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe bốn người kể: Rafca, cô dâu ở Ca-na, một triết gia Ba Tư ở Đa-mát, Đa-vít, một người theo Ngài, và Lu-ca.
Rafca, cô dâu ở Ca-na.
Chuyện này xảy ra khi người ta còn chưa biết tới Ngài.
Hôm đó tôi đang ở trong vườn của mẹ tôi, chăm mấy bụi hồng, thì Ngài dừng lại trước cổng nhà tôi.
Ngài nói: "Ta khát. Cô cho Ta xin chút nước giếng nhà cô được không?"
Tôi chạy đi lấy cái chén bạc, rót đầy nước, rồi nhỏ vào đó mấy giọt từ lọ dầu hoa nhài.
Ngài uống một hơi dài, và Ngài vui lòng.
Rồi Ngài nhìn vào mắt tôi mà nói: "Phúc lành của Ta sẽ ở trên cô."
Khi Ngài nói vậy, tôi thấy như có một luồng gió ùa qua khắp thân mình. Và tôi không còn e thẹn nữa; tôi nói: "Thưa ông, tôi đã hứa hôn với một người ở Ca-na miền Ga-li-lê. Ngày thứ tư của tuần tới tôi sẽ làm lễ cưới. Ông có đến dự đám cưới tôi, cho lễ thành hôn của tôi được rạng rỡ vì có ông không?"
Ngài đáp: "Ta sẽ đến, con ạ."
Phải để ý điều này: Ngài gọi tôi là "con", vậy mà Ngài chỉ là một chàng trai trẻ, còn tôi đã gần hai mươi tuổi.
Rồi Ngài đi tiếp xuống con đường.
Còn tôi đứng ở cổng vườn nhà mình cho tới khi mẹ gọi tôi vào nhà.
Ngày thứ tư của tuần sau đó, người ta đưa tôi về nhà chàng rể và gả tôi cho chàng.
Và Chúa Giê-su đến, cùng với mẹ Ngài và Gia-cô-bê, anh em của Ngài.
Họ ngồi quanh bàn tiệc cưới với khách khứa của chúng tôi, trong khi mấy cô bạn gái của tôi hát những bài ca cưới của vua Sa-lô-môn. Và Chúa Giê-su ăn đồ ăn của chúng tôi, uống rượu của chúng tôi, và mỉm cười với tôi, với mọi người.
Ngài chăm chú nghe hết những bài ca: bài về chàng trai đưa người yêu về lều của mình; bài về anh giữ vườn nho trẻ tuổi, thương con gái ông chủ vườn nho và dẫn nàng về nhà mẹ mình; và bài về vị hoàng tử gặp cô gái ăn xin, đưa nàng về vương quốc của chàng, và đội cho nàng chiếc vương miện của cha ông chàng.
Và dường như Ngài còn đang lắng nghe cả những bài ca khác nữa, những bài tôi không nghe được.
Lúc mặt trời lặn, cha chàng rể đến bên mẹ của Chúa Giê-su mà nói nhỏ: "Nhà tôi hết rượu đãi khách rồi. Mà ngày vui thì chưa tàn."
Chúa Giê-su nghe tiếng thì thầm ấy, và Ngài nói: "Người hầu rượu biết là vẫn còn rượu."
Và quả thật là vậy. Khách còn ngồi lại bao lâu, thì bấy lâu vẫn có rượu ngon cho mọi ai muốn uống.
Rồi Chúa Giê-su bắt đầu nói chuyện với chúng tôi. Ngài nói về những điều kỳ diệu của đất và trời; về những bông hoa trên trời nở ra khi đêm phủ xuống mặt đất, và về những bông hoa dưới đất nở ra khi ban ngày giấu đi các vì sao.
Ngài kể cho chúng tôi nghe những câu chuyện và những dụ ngôn, và giọng Ngài làm chúng tôi say mê, đến nỗi chúng tôi ngồi nhìn Ngài như người đang thấy mộng, quên cả chén rượu với đĩa thức ăn.
Và trong lúc nghe Ngài, tôi thấy như mình đang ở một xứ sở xa xôi, lạ lẫm.
Một lúc sau, một người khách nói với cha chàng rể: "Ông giữ rượu ngon nhất tới cuối tiệc. Chủ nhà khác đâu có làm vậy."
Và ai cũng tin rằng Chúa Giê-su đã làm phép lạ, nên cuối tiệc cưới mới có nhiều rượu hơn, ngon hơn lúc đầu.
Tôi cũng nghĩ chính Chúa Giê-su đã rót ra thứ rượu đó, nhưng tôi không ngạc nhiên; vì trong giọng nói của Ngài, tôi đã nghe thấy những phép lạ rồi.
Và về sau, quả thật giọng nói của Ngài cứ ở gần trái tim tôi, cho tới tận khi tôi sinh đứa con đầu lòng.
Và giờ đây, cho tới tận hôm nay, trong làng tôi và những làng gần bên, người ta vẫn còn nhớ lời của người khách hôm ấy. Và họ nói: "Tinh thần của Giê-su thành Na-da-rét là thứ rượu ngon nhất và lâu năm nhất."
Một triết gia Ba Tư ở Đa-mát.
Tôi không nói trước được số phận của con người này, cũng không nói được điều gì sẽ xảy đến cho các môn đệ của ông.
Một hạt giống giấu trong lòng trái táo là cả một vườn cây chưa ai thấy. Nhưng nếu hạt ấy rơi trên đá, nó sẽ chẳng thành gì.
Nhưng điều này thì tôi nói: Vị Thần xưa của Ít-ra-en khắc nghiệt và không biết nương tay. Ít-ra-en nên có một vị Thần khác; một vị Thần hiền từ và biết tha thứ, nhìn xuống họ với lòng thương xót; một vị Thần theo những tia nắng mặt trời mà xuống, đi trên con đường của những giới hạn nơi họ, thay vì ngồi mãi trên ghế xét xử để cân những lỗi lầm và đo những việc sai trái của họ.
Ít-ra-en nên sinh ra một vị Thần có trái tim không phải là trái tim ghen tuông, và trí nhớ về những thiếu sót của họ thì ngắn ngủi; một vị Thần không trả thù họ tới tận đời thứ ba, đời thứ tư.
Con người ở đây, ở xứ Xy-ri này, cũng như con người ở mọi xứ. Họ nhìn vào tấm gương hiểu biết của chính mình, và tìm thấy thần linh của mình trong đó. Họ nặn ra các thần theo hình dạng của chính mình, và thờ cái phản chiếu hình ảnh của chính mình.
Thật ra, con người cầu nguyện với niềm khao khát sâu thẳm hơn của chính mình, để nó trỗi dậy và làm cho đủ đầy mọi ước muốn của họ.
Không có chiều sâu nào vượt quá linh hồn con người, và linh hồn là vực sâu tự gọi chính mình; vì chẳng có tiếng nói nào khác để nói, và chẳng có đôi tai nào khác để nghe.
Ngay cả chúng tôi ở Ba Tư cũng muốn thấy gương mặt mình trên vầng mặt trời, và thấy thân mình nhảy múa trong ngọn lửa chúng tôi nhóm lên trên các bàn thờ.
Giờ đây, vị Thần của ông Giê-su, Đấng ông gọi là Cha, sẽ không xa lạ với dân của ông Giê-su, và vị Thần ấy sẽ làm cho đủ đầy những ước muốn của họ.
Các thần của Ai Cập đã quẳng bỏ gánh đá của mình mà trốn vào sa mạc Nubia, để được tự do giữa những người vẫn còn tự do vì chưa biết gì.
Các thần của Hy Lạp và Rô-ma đang tan biến vào hoàng hôn của chính mình. Họ quá giống con người, nên không sống nổi trong cơn ngây ngất của con người. Những khu rừng thiêng, nơi phép màu của họ ra đời, đã bị rìu của người A-thên và người A-lê-xan-ri-a đốn hạ.
Và ở xứ này cũng vậy, những nơi cao đã bị hạ thấp bởi các nhà luật học ở Beirut và các ẩn sĩ trẻ ở An-ti-ô-khi-a.
Chỉ những bà già và những người đàn ông mỏi mệt mới tìm tới đền thờ của tổ tiên; chỉ những kẻ kiệt sức ở cuối đường mới đi tìm lại đầu đường.
Nhưng con người này, ông Giê-su, người Na-da-rét này, đã nói về một vị Thần quá bao la để có thể khác với linh hồn của bất cứ ai, quá thấu hiểu để trừng phạt, quá yêu thương để nhớ tới tội lỗi của những loài Ngài dựng nên. Và vị Thần của người Na-da-rét ấy sẽ bước qua ngưỡng cửa nhà con cái của mặt đất, sẽ ngồi bên bếp lửa của họ, sẽ là phúc lành trong bốn vách nhà họ, và là ánh sáng trên đường họ đi.
Nhưng Thần của tôi là Thần của Zoroaster, vị Thần là mặt trời trên trời, là lửa dưới đất, và là ánh sáng trong lòng con người. Và tôi bằng lòng. Tôi không cần một vị Thần nào khác.
Đa-vít, một người theo Ngài.
Tôi đã không hiểu ý nghĩa những lời giảng và những dụ ngôn của Ngài, cho tới khi Ngài không còn ở giữa chúng tôi. Phải, tôi đã không hiểu, cho tới khi những lời của Ngài mang lấy hình hài sống động trước mắt tôi, và tự nặn thành những thân thể bước đi trong đoàn người diễu hành của chính những ngày tôi đang sống.
Để tôi kể bạn nghe chuyện này: Có một đêm, tôi ngồi trong nhà suy ngẫm, nhớ lại những lời Ngài nói và những việc Ngài làm để ghi chép vào một cuốn sách, thì có ba tên trộm vào nhà tôi. Và dù biết chúng đến để lấy của cải của tôi, tôi lại quá chú tâm vào việc mình đang làm, nên không cầm gươm ra đón chúng, thậm chí cũng không hỏi: "Các người làm gì ở đây?"
Tôi cứ tiếp tục viết những điều tôi nhớ về Thầy.
Và khi bọn trộm đã đi rồi, tôi mới nhớ tới lời Ngài: "Ai muốn lấy áo choàng của con, thì để họ lấy luôn cái áo choàng kia nữa."
Và tôi hiểu ra.
Trong lúc tôi ngồi ghi lại lời Ngài, không ai có thể làm tôi dừng lại, cho dù người ấy có mang đi hết mọi thứ tôi có.
Vì dù tôi cũng muốn giữ gìn của cải, và giữ gìn cả thân mình, tôi biết kho báu lớn hơn nằm ở đâu.
Lu-ca.
Chúa Giê-su khinh bỉ và chê ghét những kẻ giả hình, và cơn giận của Ngài như một trận bão quất vào họ. Giọng Ngài là tiếng sấm bên tai họ, và Ngài làm họ khiếp sợ.
Vì sợ Ngài, họ tìm cách giết Ngài; và như lũ chuột chũi trong lòng đất tối, họ ra sức đào khoét dưới bước chân Ngài. Nhưng Ngài không sa vào cạm bẫy của họ.
Ngài cười họ, vì Ngài biết rõ rằng tinh thần thì không thể bị chế giễu, cũng không thể bị bắt trong hố bẫy.
Ngài cầm trong tay một tấm gương, và trong đó Ngài thấy kẻ biếng nhác, kẻ đi khập khiễng, và những người lảo đảo, ngã bên vệ đường trên lối lên đỉnh núi.
Và Ngài thương tất cả họ. Ngài còn muốn nâng họ lên ngang tầm vóc của Ngài, và Ngài muốn mang lấy gánh nặng của họ. Phải, Ngài muốn để sự yếu đuối của họ được tựa vào sức mạnh của Ngài.
Ngài không lên án tận cùng kẻ nói dối, kẻ trộm, hay kẻ giết người, nhưng Ngài lên án tận cùng kẻ giả hình, kẻ có gương mặt đeo mặt nạ và bàn tay đeo găng.