Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người

Đêm Nay Ta Nằm Dưới Giàn Nho Và Các Vì Sao

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe ba người kể: Si-môn gọi là Phê-rô, thượng tế Cai-pha, và bà Gio-an-na, vợ quan quản gia của vua Hê-rô-đê.

Si-môn gọi là Phê-rô.

Tôi đang ở trên bờ hồ Ga-li-lê khi lần đầu tiên tôi thấy Chúa Giê-su, Chúa của tôi và Thầy của tôi.

Em tôi là An-rê đi cùng tôi, và chúng tôi đang quăng lưới xuống nước.

Sóng to và dữ, chúng tôi bắt được rất ít cá. Lòng chúng tôi nặng trĩu.

Bỗng Chúa Giê-su đứng gần bên chúng tôi, như thể Ngài vừa hiện hình đúng lúc ấy, vì chúng tôi không hề thấy Ngài đi tới.

Ngài gọi tên chúng tôi, và Ngài nói: "Nếu các anh theo Ta, Ta sẽ dẫn các anh tới một vũng nước nơi cá đang tụ thành đàn."

Khi tôi nhìn gương mặt Ngài, tấm lưới rơi khỏi tay tôi, vì có một ngọn lửa bừng lên trong tôi, và tôi nhận ra Ngài.

Em tôi là An-rê lên tiếng: "Chúng tôi biết hết mọi vũng nước dọc bờ này, và chúng tôi cũng biết rằng vào một ngày gió lộng như hôm nay, cá lặn xuống chỗ sâu quá tầm lưới của chúng tôi."

Chúa Giê-su trả lời: "Hãy theo Ta tới bờ của một biển lớn hơn. Ta sẽ làm cho các anh thành những người đánh lưới người. Và lưới của các anh sẽ không bao giờ trống."

Chúng tôi bỏ thuyền, bỏ lưới mà theo Ngài.

Riêng tôi, tôi bị kéo đi bởi một sức mạnh không ai nhìn thấy, sức mạnh ấy bước đi bên cạnh con người Ngài.

Tôi đi gần bên Ngài, nín thở và đầy ngỡ ngàng, còn em tôi là An-rê đi phía sau chúng tôi, bối rối và sửng sốt.

Đang đi trên cát, tôi đánh bạo thưa với Ngài: "Thưa ông, tôi và em tôi sẽ theo bước chân ông, ông đi đâu chúng tôi cũng sẽ đi đó. Nhưng nếu ông vui lòng ghé nhà chúng tôi đêm nay, chúng tôi sẽ được vinh dự vì ông đến thăm. Nhà chúng tôi không rộng, mái nhà không cao, và ông sẽ chỉ ngồi trước một bữa cơm đạm bạc. Nhưng nếu ông chịu ở lại trong túp lều của chúng tôi, với chúng tôi nó sẽ là một cung điện. Và nếu ông chịu bẻ bánh với chúng tôi, thì có ông ở đó, chúng tôi sẽ được các vương tôn trong xứ ganh tị."

Ngài nói: "Phải, đêm nay Ta sẽ làm khách của các anh."

Tôi mừng rỡ trong lòng. Chúng tôi lặng lẽ đi theo sau Ngài cho đến khi về tới nhà.

Khi chúng tôi đứng ở ngưỡng cửa, Chúa Giê-su nói: "Bình an cho nhà này, và cho những ai sống trong nhà này."

Rồi Ngài bước vào, và chúng tôi theo Ngài.

Vợ tôi, mẹ vợ tôi và con gái tôi đứng trước mặt Ngài mà tôn kính Ngài; rồi họ quỳ xuống trước Ngài và hôn lên gấu tay áo Ngài.

Họ sửng sốt vì Ngài, Đấng được tuyển chọn và rất mực yêu dấu, lại đến làm khách nhà chúng tôi; vì họ đã từng thấy Ngài bên sông Gio-đan, khi Gio-an Tẩy Giả loan báo về Ngài trước dân chúng.

Vợ tôi và mẹ vợ tôi liền bắt tay dọn bữa tối.

Em tôi là An-rê là một người nhút nhát, nhưng lòng tin của em vào Chúa Giê-su sâu hơn lòng tin của tôi.

Còn con gái tôi, lúc ấy mới mười hai tuổi, đứng sát bên Ngài và nắm lấy áo Ngài, như thể sợ Ngài bỏ chúng tôi mà đi ra lại giữa đêm tối. Con bé bám lấy Ngài như một con chiên lạc vừa tìm lại được người chăn chiên của mình.

Rồi chúng tôi ngồi vào bàn, Ngài bẻ bánh và rót rượu; Ngài quay sang chúng tôi mà nói: "Các bạn của Ta, giờ đây xin hãy cho Ta được vinh dự cùng chia thức ăn này với các bạn, như Chúa Cha đã ban ơn cho chúng ta khi ban nó cho chúng ta."

Ngài nói những lời ấy trước khi chạm vào miếng ăn nào, vì Ngài muốn theo một tục lệ xưa, rằng người khách được tôn trọng sẽ trở thành chủ nhà.

Khi ngồi cùng Ngài quanh bàn ăn, chúng tôi cảm thấy như đang ngồi dự tiệc của một vị Vua lớn.

Con gái tôi là Petronelah, còn nhỏ dại, cứ nhìn gương mặt Ngài và dõi theo từng cử động của đôi tay Ngài. Tôi thấy một làn nước mắt như tấm màn mỏng phủ trong mắt con bé.

Khi Ngài rời bàn, chúng tôi theo Ngài và ngồi quanh Ngài dưới giàn nho.

Ngài nói với chúng tôi, và chúng tôi lắng nghe, tim chúng tôi đập rộn trong lồng ngực như những cánh chim.

Ngài nói về sự sinh ra lần thứ hai của con người, về những cánh cổng trời mở ra; về những thiên thần đi xuống, mang bình an và niềm vui đến cho mọi người, và về những thiên thần đi lên ngai, mang theo những khát khao của con người dâng lên Đức Chúa Trời.

Rồi Ngài nhìn vào mắt tôi, nhìn thấu tận đáy lòng tôi. Ngài nói: "Ta đã chọn anh và em anh, và các anh phải đi với Ta. Các anh đã vất vả, đã mang nặng gánh nề. Giờ đây Ta sẽ cho các anh được nghỉ ngơi. Hãy mang lấy ách của Ta và học nơi Ta, vì trong lòng Ta có bình an, và linh hồn các anh sẽ tìm được sự dồi dào, và tìm được đường về nhà."

Khi Ngài nói như vậy, tôi và em tôi đứng dậy trước mặt Ngài, và tôi thưa với Ngài: "Thưa Thầy, chúng con sẽ theo Thầy tới tận cùng trái đất. Dù gánh nặng của chúng con có nặng như núi, chúng con cũng sẽ vui lòng mang nó cùng Thầy. Và nếu chúng con có ngã bên vệ đường, chúng con sẽ biết rằng mình đã ngã trên đường lên trời, và chúng con sẽ mãn nguyện."

Em tôi là An-rê lên tiếng: "Thưa Thầy, chúng con xin làm những sợi chỉ giữa đôi tay Thầy và khung cửi của Thầy. Xin Thầy dệt chúng con vào tấm vải, nếu Thầy muốn, vì chúng con ước được ở trong tấm áo của Đấng Tối Cao."

Vợ tôi ngẩng mặt lên, nước mắt đầm đìa trên má, nàng nói trong niềm vui: "Phúc cho Thầy, Đấng nhân danh Chúa mà đến. Phúc cho cung lòng đã cưu mang Thầy, và bầu sữa đã nuôi Thầy."

Còn con gái tôi, mới mười hai tuổi, ngồi dưới chân Ngài và nép sát vào Ngài.

Mẹ vợ tôi ngồi ở ngưỡng cửa, không nói một lời. Bà chỉ lặng lẽ khóc, và tấm khăn choàng của bà ướt đẫm nước mắt.

Chúa Giê-su bước tới bên bà, nâng gương mặt bà lên ngang mặt Ngài, và Ngài nói với bà: "Bà là mẹ của tất cả những người này. Bà khóc vì vui, và Ta sẽ giữ những giọt nước mắt của bà trong trí nhớ của Ta."

Lúc ấy vầng trăng cuối tháng đã lên khỏi chân trời. Chúa Giê-su ngắm trăng một lúc, rồi quay sang chúng tôi mà nói: "Đã khuya rồi. Mọi người hãy đi ngủ, và xin Thiên Chúa đến thăm giấc nghỉ của mọi người. Ta sẽ ở đây dưới giàn nho này cho đến sáng. Hôm nay Ta đã quăng lưới và bắt được hai người; Ta đã mãn nguyện, giờ đây Ta chúc mọi người ngủ ngon."

Mẹ vợ tôi thưa: "Nhưng chúng tôi đã dọn giường cho Thầy ở trong nhà, xin Thầy vào mà nghỉ."

Ngài trả lời bà: "Ta thật muốn nghỉ, nhưng không phải dưới một mái nhà. Đêm nay xin để Ta nằm dưới vòm che của những chùm nho và những vì sao."

Bà vội vàng mang nệm, gối và chăn ra. Ngài mỉm cười với bà mà nói: "Bà xem, Ta sẽ nằm trên một chiếc giường được dọn tới hai lần."

Rồi chúng tôi để Ngài lại đó mà vào nhà, và con gái tôi là người vào sau cùng. Mắt con bé cứ nhìn theo Ngài cho tới khi tôi khép cửa lại.

Đó là lần đầu tiên tôi biết Chúa của tôi và Thầy của tôi.

Và dù chuyện ấy đã nhiều năm rồi, tôi vẫn thấy như mới hôm nay.

Thượng tế Cai-pha.

Khi nói về người đó, tên Giê-su, và về cái chết của hắn, chúng ta hãy xét hai sự thật nổi bật: sách Lề Luật phải được chúng ta gìn giữ an toàn, và vương quốc này phải được Rô-ma che chở.

Thế mà người đó lại thách thức chúng ta và thách thức Rô-ma. Hắn đầu độc đầu óc của dân chúng chất phác, và dẫn họ như bằng phép thuật để chống lại chúng ta và chống lại hoàng đế Xê-da.

Chính các nô lệ của tôi, cả đàn ông lẫn đàn bà, sau khi nghe hắn nói ngoài chợ, đã trở nên lầm lì và bất phục. Có đứa còn bỏ nhà tôi mà trốn về sa mạc, nơi chúng từ đó mà ra.

Đừng quên rằng sách Lề Luật là nền móng của chúng ta, là ngọn tháp sức mạnh của chúng ta. Không ai được đào nền dưới chân chúng ta, chừng nào chúng ta còn quyền chặn tay kẻ đó lại; và không ai lật đổ được Giê-ru-sa-lem, chừng nào tường thành của nó còn đứng trên tảng đá xưa mà vua Đa-vít đã đặt.

Nếu dòng dõi Áp-ra-ham thật sự phải sống còn và hưng thịnh, thì mảnh đất này phải được giữ cho không bị ô uế.

Mà người đó, tên Giê-su, là kẻ làm ô uế và làm hư hỏng. Chúng tôi đã giết hắn với một lương tâm vừa cân nhắc kỹ lưỡng vừa trong sạch. Và chúng tôi sẽ giết tất cả những ai muốn hạ thấp lề luật của ông Mô-sê, hay tìm cách làm nhơ bẩn di sản thiêng liêng của chúng tôi.

Chúng tôi và Phong-xi-ô Phi-la-tô đều biết mối nguy nơi người đó, và biết rằng khôn ngoan là phải kết liễu hắn.

Tôi sẽ lo cho những kẻ theo hắn cũng có cùng một kết cục, và cho tiếng vọng của lời hắn cũng chìm vào cùng một sự im lặng.

Nếu xứ Giu-đê phải sống, thì mọi kẻ chống lại xứ sở phải bị dìm xuống bụi đất. Và trước khi Giu-đê phải chết, tôi sẽ rắc tro lên mái đầu bạc của tôi, như ngôn sứ Sa-mu-en đã làm, và tôi sẽ xé bỏ tấm áo của A-ha-ron này, mặc vào áo vải thô cho đến khi tôi ra đi mãi mãi.

Bà Gio-an-na, vợ quan quản gia của vua Hê-rô-đê.

Chúa Giê-su không bao giờ lập gia đình, nhưng Ngài là bạn của đàn bà, và Ngài hiểu họ như họ mong được hiểu, trong tình bằng hữu ngọt ngào.

Và Ngài thương trẻ con như chúng mong được thương, bằng lòng tin và sự thấu hiểu.

Trong ánh mắt Ngài có một người cha, một người anh, và một người con.

Ngài thường đặt một đứa trẻ ngồi trên gối mình mà nói: "Sức mạnh và tự do của các con là ở những đứa trẻ như thế này; và vương quốc của tinh thần là của những ai giống như chúng."

Người ta nói Chúa Giê-su không đếm xỉa gì tới lề luật của ông Mô-sê, và Ngài quá dễ tha thứ cho những gái điếm ở Giê-ru-sa-lem và ở thôn quê.