Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người

Ta Yêu Cô Vì Chính Cô

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Đêm nay mình nghe ba người kể: A-sáp, nhà hùng biện thành Ty-rô, Maria Mác-đa-la, và Phi-lê-môn, một người bào chế thuốc Hy Lạp.

A-sáp, được gọi là nhà hùng biện thành Ty-rô.

Tôi biết nói gì về lời Ngài nói đây? Có lẽ có điều gì đó nơi con người Ngài đã cho lời Ngài sức mạnh, và lay động những ai nghe Ngài. Vì Ngài đẹp, và ánh sáng của ban ngày phủ lên gương mặt Ngài.

Đàn ông đàn bà ngắm nhìn Ngài nhiều hơn là lắng nghe lý lẽ của Ngài. Nhưng có lúc Ngài nói với sức mạnh của một thần khí, và thần khí ấy có uy quyền trên những ai nghe Ngài.

Hồi còn trẻ, tôi đã nghe những nhà hùng biện ở Rô-ma, ở A-thên và ở A-lê-xan-ri-a. Người Na-da-rét trẻ tuổi ấy không giống ai trong số họ.

Họ sắp xếp lời lẽ một cách khéo léo để làm say mê lỗ tai, còn khi bạn nghe Ngài, trái tim bạn rời bỏ bạn mà đi lang thang tới những miền chưa ai đặt chân tới.

Ngài kể một câu chuyện, hay một dụ ngôn, và những chuyện, những dụ ngôn như vậy chưa từng ai nghe ở xứ Xy-ri. Ngài dường như kéo chúng ra từ các mùa trong năm, như thời gian kéo sợi ra thành năm tháng và các thế hệ.

Ngài bắt đầu một câu chuyện như vầy: "Người thợ cày ra đồng gieo hạt."

Hoặc: "Ngày xưa có một người giàu có nhiều vườn nho."

Hoặc: "Một người chăn chiên đếm đàn chiên lúc chiều tối và thấy thiếu mất một con."

Và những lời như vậy đưa người nghe trở về với con người giản dị hơn của họ, về với những ngày xa xưa của đời họ.

Tận đáy lòng, ai trong chúng ta cũng là người thợ cày, và ai cũng thương vườn nho. Và trên đồng cỏ của ký ức chúng ta có một người chăn chiên, một đàn chiên, và con chiên lạc;

Có lưỡi cày, có bồn ép nho, và có sân đập lúa.

Ngài biết cội nguồn của con người xưa cũ hơn trong ta, và biết sợi chỉ bền bỉ đã dệt nên chúng ta.

Các nhà hùng biện Hy Lạp và Rô-ma nói với người nghe về cuộc đời như trí óc nhìn thấy nó. Người Na-da-rét nói về một nỗi khao khát nằm trong trái tim.

Họ nhìn cuộc đời bằng đôi mắt chỉ sáng hơn mắt bạn và mắt tôi một chút. Còn Ngài nhìn cuộc đời trong ánh sáng của Thiên Chúa.

Tôi thường nghĩ Ngài nói với đám đông như một ngọn núi nói với đồng bằng.

Và trong lời Ngài có một sức mạnh mà các nhà hùng biện ở A-thên hay ở Rô-ma không hề có được.

Maria Mác-đa-la.

Đó là vào tháng Sáu, lần đầu tiên tôi thấy Ngài. Ngài đang đi giữa cánh đồng lúa mì khi tôi đi ngang qua cùng mấy cô hầu gái, và Ngài đi một mình.

Nhịp bước của Ngài khác với những người đàn ông khác, và dáng thân Ngài chuyển động như chưa từng có gì tôi thấy trước đó.

Đàn ông không bước trên mặt đất theo cách ấy. Và cho tới bây giờ tôi vẫn không biết Ngài đi nhanh hay đi chậm.

Mấy cô hầu gái chỉ tay về phía Ngài và thì thầm e thẹn với nhau. Tôi dừng bước một chút, đưa tay lên chào Ngài. Nhưng Ngài không quay mặt lại, và Ngài không nhìn tôi. Và tôi ghét Ngài. Tôi bị đẩy ngược vào trong chính mình, và tôi lạnh như vừa nằm trong một đống tuyết. Tôi run lên.

Đêm đó tôi thấy Ngài trong giấc mơ; và sau này người ta kể rằng tôi đã la hét trong giấc ngủ, trằn trọc mãi trên giường.

Đến tháng Tám, tôi lại thấy Ngài, qua khung cửa sổ. Ngài đang ngồi dưới bóng cây trắc bá bên kia vườn nhà tôi, và Ngài ngồi yên như được tạc ra từ đá, như những pho tượng ở An-ti-ốt và những thành phố khác của miền Bắc.

Người nô lệ của tôi, người Ai Cập, đến bên tôi mà nói: "Người đàn ông ấy lại tới nữa. Ông ta đang ngồi đằng kia, bên kia vườn của bà."

Tôi nhìn Ngài, và hồn tôi run rẩy trong tôi, vì Ngài đẹp.

Thân thể Ngài là một khối thống nhất, và mỗi phần dường như thương yêu mọi phần khác.

Rồi tôi mặc vào bộ áo may bằng vải Đa-mát, ra khỏi nhà và đi về phía Ngài.

Là nỗi cô đơn của tôi, hay là hương thơm của Ngài, đã kéo tôi đến bên Ngài? Là cơn đói trong mắt tôi thèm khát cái đẹp, hay là vẻ đẹp của Ngài đi tìm ánh sáng trong mắt tôi?

Cho tới bây giờ tôi vẫn không biết.

Tôi đi đến bên Ngài, trong bộ áo thơm và đôi dép vàng, đôi dép viên đội trưởng người Rô-ma đã tặng tôi, chính đôi dép này đây. Khi tới nơi, tôi nói: "Chào ông, chúc ông một ngày tốt lành."

Và Ngài nói: "Chào cô, chúc cô một ngày tốt lành, Miriam."

Ngài nhìn tôi, và đôi mắt như màn đêm của Ngài thấy tôi như chưa từng người đàn ông nào thấy tôi. Bỗng nhiên tôi như trần truồng, và tôi thấy ngượng.

Vậy mà Ngài chỉ nói: "Chúc cô một ngày tốt lành."

Rồi tôi nói với Ngài: "Ông không vào nhà tôi sao?"

Ngài nói: "Chẳng phải Ta đã ở trong nhà cô rồi sao?"

Lúc ấy tôi không hiểu Ngài muốn nói gì, nhưng bây giờ thì tôi hiểu.

Tôi nói: "Ông không dùng rượu và bánh với tôi sao?"

Ngài nói: "Có chứ, Miriam, nhưng không phải bây giờ."

Không phải bây giờ, không phải bây giờ, Ngài đã nói vậy. Và trong mấy chữ ấy có tiếng của biển cả, có tiếng của gió và của cây. Khi Ngài nói những chữ ấy với tôi, sự sống đã nói với cái chết.

Vì bạn nên biết, bạn của tôi, tôi đã chết. Tôi là một người đàn bà đã ly dị với chính linh hồn mình. Tôi sống tách rời khỏi con người mà bây giờ bạn đang thấy đây. Tôi thuộc về mọi người đàn ông, và chẳng thuộc về ai. Người ta gọi tôi là gái điếm, là người đàn bà bị bảy quỷ ám. Tôi bị nguyền rủa, và tôi cũng bị ganh tị.

Nhưng khi đôi mắt như bình minh của Ngài nhìn vào mắt tôi, mọi vì sao trong đêm của tôi đều tắt lịm, và tôi trở thành Miriam, chỉ là Miriam, một người đàn bà đã lạc mất mặt đất mình từng biết, và đang tìm thấy chính mình ở những nơi chốn mới.

Và một lần nữa tôi nói với Ngài: "Xin ông vào nhà tôi, dùng bánh và rượu với tôi."

Ngài nói: "Vì sao cô mời Ta làm khách của cô?"

Tôi nói: "Tôi xin ông vào nhà tôi." Và đó là tất cả những gì là đất trong tôi, và tất cả những gì là trời trong tôi, đang kêu gọi Ngài.

Rồi Ngài nhìn tôi, ánh trưa trong mắt Ngài rọi xuống tôi, và Ngài nói: "Cô có nhiều người tình, nhưng chỉ một mình Ta yêu cô. Những người đàn ông khác yêu chính họ khi ở gần cô. Còn Ta yêu cô trong chính con người cô. Những người đàn ông khác thấy nơi cô một vẻ đẹp sẽ tàn phai còn sớm hơn tuổi đời của họ. Nhưng Ta thấy nơi cô một vẻ đẹp không bao giờ tàn phai, và vào mùa thu của đời cô, vẻ đẹp ấy sẽ không sợ soi mình trong gương, và nó sẽ không thấy tủi.

Chỉ một mình Ta yêu điều không ai thấy được nơi cô."

Rồi Ngài nói khẽ: "Bây giờ cô đi đi. Nếu cây trắc bá này là của cô, và cô không muốn Ta ngồi dưới bóng nó, Ta sẽ đi đường của Ta."

Tôi kêu lên với Ngài: "Thưa Thầy, xin Thầy vào nhà tôi. Tôi có trầm hương để đốt cho Thầy, và một chậu bạc để rửa chân cho Thầy. Thầy là người lạ, mà lại không phải người lạ. Tôi van Thầy, xin Thầy vào nhà tôi."

Ngài đứng dậy nhìn tôi, như các mùa nhìn xuống cánh đồng, và Ngài mỉm cười. Ngài nói lại một lần nữa: "Mọi người đàn ông đều yêu cô vì chính họ. Còn Ta yêu cô vì chính cô."

Rồi Ngài bước đi.

Nhưng chưa từng có người đàn ông nào bước đi như Ngài đã bước. Đó là một làn hơi thở sinh ra trong vườn tôi rồi trôi về phương đông? Hay đó là một cơn bão sẽ làm rung chuyển mọi thứ tới tận nền móng?

Tôi không biết, nhưng ngày hôm ấy, ánh hoàng hôn trong mắt Ngài đã giết chết con rồng trong tôi, và tôi trở thành một người đàn bà, tôi trở thành Miriam, Miriam người Mác-đa-la.

Phi-lê-môn, một người bào chế thuốc Hy Lạp.

Người Na-da-rét là bậc Danh Y của dân tộc Ngài. Không ai khác hiểu biết nhiều đến vậy về thân thể chúng ta, về những chất làm nên nó và tính chất của chúng.

Ngài làm lành lặn những người mắc những chứng bệnh mà người Hy Lạp và người Ai Cập không biết tới. Người ta còn nói Ngài đã gọi được người chết sống lại. Dù điều ấy đúng hay không đúng, nó cũng nói lên quyền năng của Ngài; vì chỉ người đã làm nên những điều lớn lao mới được người ta gán cho điều lớn lao nhất.

Người ta cũng nói Chúa Giê-su đã từng đến Ấn Độ, và đến Xứ Giữa Hai Dòng Sông, và ở đó các thầy tế đã mở cho Ngài thấy hiểu biết về mọi điều ẩn giấu trong những ngõ ngách của thân xác chúng ta.

Nhưng có lẽ hiểu biết ấy đã được các vị thần trao thẳng cho Ngài, chứ không phải qua các thầy tế. Vì điều đã bị giấu kín với mọi người suốt cả một thời đại dài, có thể được tỏ cho một người chỉ trong một chớp mắt. Và thần A-pô-lô có thể đặt tay lên trái tim của một người vô danh mà làm cho người ấy trở nên khôn ngoan.

Nhiều cánh cửa đã mở ra cho người Ty-rô và người Thê-bơ, và với người này, cũng có những cánh cửa niêm phong đã mở ra. Ngài bước vào ngôi đền của linh hồn, tức là thân xác; và Ngài nhìn thấy những ác thần đang âm mưu chống lại gân cốt chúng ta, và cả những thiện thần đang se những sợi gân ấy.