Tình Ca kể chuyện · Giê-su Con Người
Vương Quốc Ở Nơi Hai Ba Người Gặp Nhau
Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Giê-su Con Người" của Khalil Gibran. Cuốn sách in năm một nghìn chín trăm hai mươi tám, của nhà thơ, họa sĩ gốc Li-băng sống ở Mỹ, cũng là tác giả cuốn "Kẻ Tiên Tri". Trong sách, Gibran tưởng tượng lời của gần tám mươi người từng gặp Chúa Giê-su, mỗi người kể lại Ngài theo cách mình nhớ: có người thương, có người nghi, có cả người chống đối Ngài. Đây là một tác phẩm văn chương, không phải Kinh Thánh; mình đọc để thêm thương, thêm hiểu Ngài qua mắt nhiều người. Đêm nay mình nghe hai người kể: Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, và bà An-na, mẹ của Đức Maria.
Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê.
Một ngày mùa xuân năm ấy, Chúa Giê-su đứng giữa chợ Giê-ru-sa-lem và nói với đám đông về Nước Trời.
Ngài tố cáo các kinh sư và người Pha-ri-sêu giăng bẫy, đào hố trên con đường của những người khao khát Nước Trời; và Ngài lên án họ.
Lúc ấy trong đám đông có một nhóm người bênh vực người Pha-ri-sêu và các kinh sư, họ tìm cách tra tay bắt Chúa Giê-su, và bắt cả chúng tôi nữa.
Nhưng Ngài tránh họ, rẽ sang hướng khác, đi về phía cổng bắc của thành.
Ngài nói với chúng tôi: "Giờ của Thầy chưa đến. Còn nhiều điều Thầy phải nói với các con, và còn nhiều việc Thầy sẽ làm, trước khi Thầy trao mình cho thế gian."
Rồi Ngài nói, giọng đầy vui vẻ và tiếng cười: "Chúng ta hãy lên miền Bắc mà đón mùa xuân. Hãy theo Thầy lên đồi, vì mùa đông đã qua, và tuyết trên núi Li-băng đang xuống thung lũng để hát cùng những con suối.
Đồng ruộng và vườn nho đã xua cơn ngủ đi, đã thức dậy để đón mặt trời bằng những trái vả xanh và những chùm nho non."
Ngài đi trước, chúng tôi theo sau, ngày hôm ấy và cả ngày hôm sau.
Đến chiều ngày thứ ba, chúng tôi lên tới đỉnh núi Khéc-môn, và Ngài đứng đó, nhìn xuống những thành phố dưới đồng bằng.
Gương mặt Ngài sáng rực như vàng nung chảy, Ngài dang rộng hai tay mà nói với chúng tôi: "Hãy nhìn mặt đất trong tấm áo xanh của nàng, và hãy xem những dòng suối đã viền bạc lên vạt áo nàng ra sao.
Thật vậy, mặt đất đẹp, và mọi thứ trên mặt đất đều đẹp.
Nhưng có một vương quốc ở bên kia tất cả những gì các con nhìn thấy, và ở đó Thầy sẽ trị vì. Nếu các con chọn như vậy, và nếu các con thật lòng mong muốn, các con cũng sẽ đến và trị vì cùng Thầy.
Mặt Thầy và mặt các con sẽ không phải đeo mặt nạ; tay chúng ta sẽ không cầm gươm, cũng không cầm vương trượng, và thần dân của chúng ta sẽ yêu chúng ta trong bình an, chứ không phải sợ chúng ta."
Chúa Giê-su nói như vậy, và mắt tôi bỗng mù trước mọi vương quốc trên mặt đất, trước mọi thành phố có tường cao tháp lớn; và trong lòng tôi chỉ muốn theo Thầy đến vương quốc của Ngài.
Ngay lúc đó, Giu-đa Ít-ca-ri-ốt bước ra. Anh ta đi tới trước mặt Chúa Giê-su mà nói: "Thầy xem, các vương quốc của thế gian rộng lớn biết bao, và thầy xem, các thành của Đa-vít và Sa-lô-môn sẽ thắng được người Rô-ma. Nếu thầy chịu làm vua dân Do Thái, chúng tôi sẽ đứng bên thầy với gươm và khiên, và chúng ta sẽ đánh bại quân ngoại bang."
Nhưng khi nghe vậy, Chúa Giê-su quay lại phía Giu-đa, mặt Ngài đầy giận dữ. Ngài nói, giọng dữ dội như sấm trên trời: "Hãy lui ra sau Ta, Xa-tan. Ngươi tưởng Ta đã đi xuống qua bao nhiêu năm tháng để cai trị một tổ kiến trong một ngày sao?
Ngai của Ta là một ngai ở ngoài tầm mắt ngươi. Kẻ có đôi cánh ôm trọn mặt đất, lẽ nào lại đi tìm chỗ trú trong một cái tổ bị bỏ rơi và lãng quên?
Lẽ nào người sống lại được kẻ mặc vải liệm tôn vinh và đưa lên cao?
Vương quốc của Ta không thuộc về mặt đất này, và chỗ ngồi của Ta không xây trên sọ của tổ tiên các ngươi.
Nếu ngươi tìm bất cứ điều gì khác ngoài vương quốc của tinh thần, thì thà ngươi bỏ Ta lại đây, mà xuống những hang động của người chết các ngươi, nơi những cái đầu đội vương miện thuở trước vẫn còn thiết triều trong mồ, và có lẽ vẫn còn đang ban tước cho xương cốt cha ông các ngươi.
Ngươi dám cám dỗ Ta bằng một vương miện bằng thứ kim loại cặn bã, khi vầng trán Ta đang hướng tới chòm sao Rua, hay bằng những cái gai của các ngươi?
Nếu không vì một giấc mơ của một giống người đã bị lãng quên, Ta đã chẳng để mặt trời của các ngươi mọc lên trên lòng kiên nhẫn của Ta, cũng chẳng để mặt trăng của các ngươi ném bóng Ta ngang qua đường các ngươi đi.
Nếu không vì lòng mong mỏi của một người mẹ, Ta đã cởi bỏ tã lót mà trốn về lại khoảng không bao la.
Và nếu không vì nỗi buồn trong tất cả các ngươi, Ta đã chẳng ở lại để khóc.
Ngươi là ai, và ngươi là gì, hỡi Giu-đa Ít-ca-ri-ốt? Và vì sao ngươi cám dỗ Ta?
Có thật ngươi đã đặt Ta lên cân, và thấy Ta là kẻ để cầm đầu những đạo quân người lùn, để điều khiển những cỗ xe của những kẻ không hình không dạng, đi đánh một kẻ thù chỉ đóng trại trong lòng căm ghét của các ngươi, và chỉ hành quân trong nỗi sợ của các ngươi?
Sâu bọ bò quanh chân Ta nhiều quá, và Ta sẽ không giao chiến với chúng. Ta đã chán trò đùa này, chán cả việc thương hại những kẻ bò lê, những kẻ cho Ta là hèn nhát, chỉ vì Ta không chịu đi vào giữa tường thành và tháp canh có lính gác của họ.
Đáng buồn thay, Ta phải thương hại cho đến tận cùng. Ước gì Ta có thể quay bước về một thế giới rộng lớn hơn, nơi những con người lớn hơn đang sống. Nhưng làm sao Ta đi được?
Thầy tế của các ngươi và hoàng đế của các ngươi muốn có máu Ta. Họ sẽ được thỏa lòng trước khi Ta ra đi. Ta không muốn đổi dòng chảy của luật trời. Và Ta không muốn cai trị sự điên rồ.
Hãy để sự ngu muội cứ sinh sôi, cho đến khi nó chán ngấy chính đám con cái của nó.
Hãy để kẻ mù dắt kẻ mù xuống hố.
Và hãy để kẻ chết chôn kẻ chết, cho đến khi mặt đất nghẹn vì chính trái đắng của mình.
Vương quốc của Ta không thuộc về mặt đất. Vương quốc của Ta sẽ ở nơi hai hay ba người trong các ngươi gặp nhau trong tình thương, trong sự ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của cuộc đời, trong niềm vui, và trong lúc nhớ đến Ta."
Rồi đột nhiên Ngài quay sang Giu-đa mà nói: "Hãy lui ra sau Ta, hỡi người kia. Những vương quốc của ngươi sẽ không bao giờ có chỗ trong vương quốc của Ta."
Lúc ấy trời đã chạng vạng, Ngài quay sang chúng tôi mà nói: "Chúng ta xuống thôi. Đêm đã đến. Hãy bước đi trong ánh sáng khi ánh sáng còn ở với chúng ta."
Rồi Ngài xuống núi, chúng tôi đi theo Ngài. Còn Giu-đa thì theo xa xa phía sau.
Khi chúng tôi xuống tới vùng đất thấp thì trời đã tối.
Tô-ma, con ông Đi-ô-pha-nê, thưa với Ngài: "Thưa Thầy, trời tối rồi, chúng con không còn thấy đường nữa. Nếu Thầy muốn, xin Thầy dẫn chúng con tới những ánh đèn của ngôi làng đằng kia, nơi chúng ta có thể tìm được cơm ăn và chỗ trú."
Chúa Giê-su trả lời Tô-ma: "Thầy đã dẫn các con lên những đỉnh cao khi các con đói, và Thầy đã đưa các con xuống đồng bằng với một cơn đói lớn hơn. Nhưng đêm nay Thầy không thể ở lại với các con. Thầy muốn ở một mình."
Si-môn Phê-rô bước ra mà thưa: "Thưa Thầy, xin đừng để chúng con đi một mình trong bóng tối. Xin cho chúng con được ở lại với Thầy, dù ngay tại con đường nhỏ này. Đêm tối và những bóng đêm sẽ không ở lâu, và buổi sáng sẽ sớm tìm thấy chúng ta, miễn là Thầy ở lại với chúng con."
Chúa Giê-su trả lời: "Đêm nay chồn cáo sẽ có hang, chim trời sẽ có tổ, nhưng Con Người không có chỗ nào trên mặt đất để gối đầu. Và quả thật, bây giờ Thầy muốn ở một mình. Nếu các con cần Thầy, các con sẽ gặp lại Thầy bên bờ hồ, nơi Thầy đã gặp các con."
Rồi chúng tôi rời Ngài mà đi, lòng nặng trĩu, vì chúng tôi không muốn xa Ngài.
Nhiều lần chúng tôi dừng lại, quay mặt nhìn về phía Ngài, và chúng tôi thấy Ngài một mình, uy nghi, đang đi về hướng tây.
Người duy nhất trong chúng tôi không quay lại nhìn Ngài trong lúc Ngài cô đơn, là Giu-đa Ít-ca-ri-ốt.
Và từ ngày đó, Giu-đa trở nên cau có và xa cách. Tôi cứ nghĩ như có điều gì nguy hiểm nằm sâu trong hốc mắt anh ta.
Bà An-na, mẹ của Đức Maria.
Giê-su, con của con gái tôi, sinh ra ở đây, ở Na-da-rét, vào tháng Giêng. Đêm Giê-su ra đời, nhà chúng tôi có mấy người từ phương Đông ghé tới. Họ là người Ba Tư, theo đoàn lạc đà của người Ma-đi-an đến đồng bằng Ét-ra-e-lôn, trên đường sang Ai Cập. Vì không tìm được phòng ở quán trọ, họ xin trú nhờ nhà chúng tôi.
Tôi đón họ vào và nói: "Con gái tôi vừa sinh một đứa con trai đêm nay. Chắc quý ông bỏ qua cho, nếu tôi không tiếp đãi được chu đáo như một bà chủ nhà phải làm."
Họ cảm ơn tôi đã cho họ chỗ trú. Ăn tối xong, họ nói với tôi: "Chúng tôi muốn được thấy đứa bé mới sinh."
Mà Con của Maria thì đẹp lắm, nhìn hoài không chán, và con gái tôi cũng xinh đẹp.
Khi mấy người Ba Tư thấy Maria và đứa bé, họ lấy vàng bạc trong túi ra, cùng với mộc dược và nhũ hương, đặt tất cả dưới chân đứa trẻ.
Rồi họ quỳ sụp xuống, cầu nguyện bằng một thứ tiếng lạ mà chúng tôi không hiểu.
Khi tôi dẫn họ vào phòng ngủ đã dọn sẵn, họ bước đi như người còn kinh sợ trước điều mình vừa thấy.
Sáng ra, họ từ biệt chúng tôi và theo đường đi Ai Cập.
Nhưng lúc chia tay, họ nói với tôi: "Đứa trẻ mới được một ngày tuổi, vậy mà chúng tôi đã thấy ánh sáng của Thiên Chúa chúng tôi trong mắt Ngài, và nụ cười của Thiên Chúa chúng tôi trên môi Ngài.
Xin bà gìn giữ Ngài, để Ngài gìn giữ tất cả mọi người."
Nói xong, họ lên lạc đà, và chúng tôi không bao giờ gặp lại họ nữa.
Còn Maria, con bé dường như không vui mừng với đứa con đầu lòng cho bằng ngỡ ngàng, sửng sốt.