Nghe kể bên ly cà phê

Tình Ca kể chuyện

Những câu chuyện có thật về con người, tuổi già, lòng tử tế và cách sống. Tình Ca kể chậm rãi, như ngồi bên ly cà phê buổi sáng.

Tình Ca kể chuyện · Ngụ Ngôn Gibran

Nơi Hạt Thì Ít Và Gần Như Im Lặng

Đây là Sách Nói Tình Ca, cuốn "Kẻ Điên" của Khalil Gibran. Đêm nay mình đọc tiếp mười bài ngụ ngôn ngắn: Con cáo, Ông vua khôn ngoan, Tham vọng, Niềm vui mới, Thứ ngôn ngữ khác, Trái lựu, Hai cái lồng, Ba con kiến, Người đào huyệt, và Trên bậc thềm đền thờ.

Con cáo.

Một con cáo nhìn cái bóng của mình lúc mặt trời mọc mà nói: "Trưa nay mình sẽ ăn một con lạc đà." Và suốt buổi sáng, nó đi khắp nơi tìm lạc đà. Nhưng tới trưa, nó lại nhìn thấy cái bóng của mình, và nó nói: "Một con chuột cũng được."

Ông vua khôn ngoan.

Ngày xưa, ở thành Wirani xa xôi, có một ông vua vừa hùng mạnh vừa khôn ngoan trị vì. Người ta sợ ông vì sức mạnh của ông, và thương ông vì sự khôn ngoan của ông.

Giữa lòng thành ấy có một cái giếng, nước mát và trong như pha lê. Mọi người dân đều uống nước giếng ấy, cả nhà vua và các quan trong triều cũng vậy, vì không có cái giếng nào khác.

Một đêm, khi mọi người đã ngủ say, một mụ phù thủy lẻn vào thành, nhỏ bảy giọt nước lạ vào giếng mà nói: "Từ giờ này, ai uống nước này sẽ hóa điên."

Sáng hôm sau, mọi người dân, trừ nhà vua và quan tổng quản của ông, đều uống nước giếng và hóa điên, đúng như mụ phù thủy đã nói trước.

Và suốt ngày hôm đó, dân chúng trong những con hẻm hẹp và ngoài những khu chợ chẳng làm gì khác ngoài thì thầm với nhau: "Nhà vua điên rồi. Vua của chúng ta và quan tổng quản của ông đã mất trí. Chắc chắn chúng ta không thể để một ông vua điên cai trị. Chúng ta phải truất ngôi ông ta."

Chiều tối hôm đó, nhà vua ra lệnh múc nước giếng rót đầy một chiếc cốc bằng vàng. Khi cốc được mang tới, ông uống một hơi thật sâu, rồi đưa cho quan tổng quản uống.

Và cả thành Wirani xa xôi ấy vui mừng khôn xiết, vì nhà vua và quan tổng quản của họ đã tỉnh trí lại.

Tham vọng.

Ba người đàn ông gặp nhau bên một bàn rượu trong quán. Một người là thợ dệt, một người là thợ mộc, và người thứ ba là thợ cày.

Người thợ dệt nói: "Hôm nay tôi bán được một tấm vải liệm bằng lanh mịn, giá hai đồng tiền vàng. Mình uống bao nhiêu rượu tùy thích đi."

"Còn tôi," người thợ mộc nói, "tôi bán được cái quan tài đẹp nhất của tôi. Mình sẽ ăn một món thịt quay thật lớn với rượu."

"Tôi thì chỉ đào có một cái huyệt," người thợ cày nói, "nhưng ông chủ trả tôi gấp đôi. Mình gọi thêm bánh mật ong nữa."

Và suốt buổi tối hôm đó, quán rượu rộn ràng, vì họ cứ gọi rượu, gọi thịt, gọi bánh liên tục. Và họ vui vẻ lắm.

Còn ông chủ quán xoa tay, mỉm cười với vợ, vì khách của ông tiêu tiền rộng rãi.

Khi họ ra về, trăng đã lên cao, và họ đi dọc con đường, cùng nhau ca hát, hò la.

Ông chủ quán và vợ đứng ở cửa quán nhìn theo họ.

"Chà!" người vợ nói, "mấy ông này! Rộng tay mà vui vẻ quá! Phải chi ngày nào họ cũng mang may mắn tới cho mình như vầy! Thì con trai mình đâu cần làm chủ quán rượu mà cực khổ như vậy. Mình có thể cho nó ăn học, và nó có thể làm linh mục."

Niềm vui mới.

Đêm qua tôi vừa nghĩ ra một niềm vui mới, và khi tôi đang thử nó lần đầu, thì một thiên thần và một con quỷ cùng lao tới nhà tôi. Chúng gặp nhau ở cửa nhà tôi và đánh nhau giành lấy niềm vui tôi mới tạo ra. Một bên la lên: "Đó là tội lỗi!" Bên kia la lên: "Đó là đức hạnh!"

Thứ ngôn ngữ khác.

Ba ngày sau khi tôi chào đời, lúc tôi đang nằm trong chiếc nôi lụa, sững sờ và hoảng hốt nhìn thế giới mới quanh mình, mẹ tôi nói với bà vú nuôi: "Con tôi thế nào rồi?"

Bà vú nuôi trả lời: "Cậu bé khỏe lắm, thưa bà. Tôi đã cho cậu bú ba lần, và tôi chưa từng thấy đứa bé nào còn nhỏ như vầy mà vui vẻ như vầy."

Còn tôi thì bực tức, tôi khóc lên: "Không đúng đâu, mẹ ơi. Vì giường con cứng, sữa con bú đắng ngắt trong miệng, mùi bầu vú hôi xộc vào mũi con, và con khổ lắm."

Nhưng mẹ tôi không hiểu, bà vú cũng không hiểu, vì thứ tiếng tôi nói là tiếng của thế giới nơi tôi vừa từ đó tới.

Và vào ngày thứ hai mươi mốt của đời tôi, khi tôi được làm lễ rửa tội, vị linh mục nói với mẹ tôi: "Bà thật nên vui mừng, thưa bà, vì con trai bà sinh ra đã là người theo đạo Ki-tô."

Tôi ngạc nhiên, và tôi nói với vị linh mục: "Vậy thì mẹ ông trên Thiên đàng hẳn phải buồn lắm, vì ông sinh ra đâu phải là người theo đạo Ki-tô."

Nhưng vị linh mục cũng không hiểu thứ tiếng của tôi.

Và bảy tuần trăng sau, một ngày kia, có một thầy bói nhìn tôi, rồi nói với mẹ tôi: "Con trai bà sẽ thành một chính khách, một người lớn dẫn dắt muôn người."

Nhưng tôi kêu lên: "Đó là một nhà tiên tri giả. Vì con sẽ là một nhạc sĩ, và con sẽ chẳng là gì khác ngoài một nhạc sĩ."

Nhưng ngay ở tuổi đó, tiếng nói của tôi vẫn không ai hiểu, và tôi kinh ngạc vô cùng.

Và ba mươi ba năm sau, trong khoảng thời gian ấy mẹ tôi, bà vú, và vị linh mục đều đã qua đời, cầu cho bóng Thượng đế phủ trên linh hồn họ, thì ông thầy bói vẫn còn sống. Và hôm qua tôi gặp ông gần cổng đền thờ. Trong lúc chúng tôi trò chuyện, ông nói: "Tôi vẫn luôn biết anh sẽ thành một nhạc sĩ lớn. Ngay từ khi anh còn nằm nôi, tôi đã nói trước, đã đoán trước tương lai của anh rồi."

Và tôi tin ông, vì giờ đây chính tôi cũng đã quên thứ ngôn ngữ của thế giới kia.

Trái lựu.

Có lần, khi tôi đang sống trong lòng một trái lựu, tôi nghe một hạt nói: "Rồi một ngày tôi sẽ thành một cái cây, gió sẽ hát trong cành tôi, nắng sẽ nhảy múa trên lá tôi, và tôi sẽ mạnh mẽ, xinh đẹp suốt bốn mùa."

Rồi một hạt khác lên tiếng: "Hồi tôi còn non như bạn, tôi cũng từng nghĩ như vậy. Nhưng giờ đây khi đã biết cân, biết đo mọi thứ, tôi thấy những hy vọng của mình chỉ là hão huyền."

Và một hạt thứ ba cũng lên tiếng: "Tôi chẳng thấy gì nơi chúng ta hứa hẹn một tương lai lớn lao tới vậy."

Và một hạt thứ tư nói: "Nhưng đời chúng ta sẽ đáng cười biết bao, nếu không có một tương lai lớn lao hơn!"

Hạt thứ năm nói: "Cãi nhau chuyện chúng ta sẽ là gì làm chi, khi chúng ta còn chưa biết mình là gì."

Nhưng hạt thứ sáu đáp: "Chúng ta là gì, thì chúng ta sẽ cứ mãi là vậy."

Và hạt thứ bảy nói: "Tôi thấy rõ lắm mọi chuyện rồi sẽ ra sao, nhưng tôi không nói thành lời được."

Rồi một hạt thứ tám lên tiếng, rồi một hạt thứ chín, rồi một hạt thứ mười, rồi rất nhiều hạt, cho tới khi tất cả đều nói, và tôi chẳng phân biệt được gì giữa bao nhiêu tiếng nói.

Thế là ngay hôm đó, tôi dọn sang ở trong lòng một trái mộc qua, nơi hạt thì ít và gần như im lặng.

Hai cái lồng.

Trong khu vườn của cha tôi có hai cái lồng. Trong một lồng là một con sư tử, do những người nô lệ của cha tôi mang về từ sa mạc Ninavah. Trong lồng kia là một con chim sẻ không biết hót.

Mỗi ngày, lúc rạng đông, con chim sẻ lại gọi con sư tử: "Chào buổi sáng, anh bạn tù."

Ba con kiến.

Ba con kiến gặp nhau trên mũi một người đang ngủ dưới nắng. Sau khi chào nhau, mỗi con theo phong tục của bộ tộc mình, chúng đứng lại đó trò chuyện.

Con kiến thứ nhất nói: "Đồi núi và đồng bằng ở đây cằn cỗi nhất mà tôi từng biết. Tôi đã tìm suốt cả ngày một hạt gì đó, mà chẳng tìm thấy hạt nào."

Con kiến thứ hai nói: "Tôi cũng chẳng tìm được gì, dù tôi đã đi khắp mọi ngóc ngách, mọi bãi trống. Tôi tin đây chính là cái mà bộ tộc tôi gọi là vùng đất mềm, biết chuyển động, nơi không có gì mọc được."

Rồi con kiến thứ ba ngẩng đầu lên mà nói: "Các bạn ơi, chúng ta đang đứng trên mũi của Đấng Kiến Tối Cao, Đấng Kiến quyền năng và vô hạn, thân Ngài lớn tới nỗi chúng ta không thấy được, bóng Ngài rộng tới nỗi chúng ta không lần ra được, tiếng Ngài vang tới nỗi chúng ta không nghe được; và Ngài có mặt ở khắp mọi nơi."

Khi con kiến thứ ba nói vậy, hai con kiến kia nhìn nhau mà cười.

Đúng lúc đó, người đàn ông cựa mình, trong giấc ngủ đưa tay lên gãi mũi, và ba con kiến bị đè nát.

Người đào huyệt.

Có lần, khi tôi đang chôn một trong những cái tôi đã chết của mình, người đào huyệt đi ngang qua và nói với tôi: "Trong tất cả những người tới đây chôn cất, tôi chỉ thích mỗi anh."

Tôi nói: "Ông làm tôi vui lắm, nhưng sao ông lại thích tôi?"

"Bởi vì," ông nói, "họ tới thì khóc, về cũng khóc. Chỉ có anh tới thì cười, về cũng cười."